Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 67/2024/HS-ST Ngày: 24-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Thu Thủy;
  2. Bà Huỳnh Thị Quỳnh Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Trúc Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Chi - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 54/2024/HSST ngày 13 tháng 03 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

LÝ BÙI ĐÌNH K - sinh năm 1992 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: H T, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: H T, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Thọ B, đã chết; con bà: Lý K, sinh năm: 1952; vợ: Trương Đỗ Hà M, sinh năm 1992; con: Có 03 con; lớn nhất sinh năm 2019, nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 16/09/2022, bị Công an quận G bắt đưa vào Cơ sở Xã hội N (nay là Cơ sở Cai nghiện ma túy N) theo Quyết định số: 1042/QĐ-UBND ngày 21/09/2022 của UBND quận G. Ngày 16/10/2022, Lý Bùi Đình K1 đã tự ý trốn khỏi Cơ sở, Cơ Sở xã hội N đã ban hành cổng văn số: 1335/CSNX-TV ngày 17/10/2022 về việc người nghiện ma tuý không có nơi cư trú ổn định bỏ trốn khỏi cơ sở.

Nhân thân:

- Ngày 30/12/2011, bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Bản án số 295/HSST.

- Ngày 04/01/2012, bị Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 20 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 02/HSST.

- Ngày 19/3/2015, bị Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 48/HSST.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/11/2023.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Quang H - sinh năm 1994; Địa chỉ: 6 Y, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 03 phút, ngày 25/11/2023, anh Nguyễn Quang H đang ngồi uống nước trong quán cà phê “Rin”, địa chỉ số B C, Phường B, quận T, thì thấy một thanh niên đang bẻ khóa xe máy biển số 59D1- 316.16 của anh H dựng trước quán rồi nổ máy xe tẩu thoát, anh H tri hô, chạy bộ đuổi theo được khoảng 20 mét nhưng không kịp. Tài sản anh H để bên trong cốp xe bị mất trộm gồm: 01 điện thoại S Fold 4, 512GB, 01 tai nghe Airpod Pro, 01 giấy phép lái xe, 04 thẻ ngân hàng, 01 Chứng minh nhân dân, 01 Căn cước công dân và 01 Giấy đăng ký xe máy biển số 59D1- 316.16 tên Nguyễn Thị Thanh T nên đến Công an P1, quận T trình báo.

Qua điều tra truy xét, định vị hộp tai nghe Airpod Pro của anh H, Công an quận T bắt giữ được Lý Bùi Đình K1 tại xã T, huyện C, khi K1 đang sử dụng các tài sản của anh H bị trộm cắp.

Tại Cơ quan điều tra, Lý Bùi Đình K2 khai nhận, khoảng 20 giờ ngày 25/11/2023, H1 (chưa rõ lai lịch) gọi điện thoại cho K2 nói mới trộm cắp được 01 xe SH150, cả hai thỏa thuận mua bán xe với giá 25.000.000 đồng và hẹn gặp tại Vòng xoay N, Phạm Văn Đ, quận G để mua bán xe. Sau đó K2 gọi điện cho Võ Tuấn K3 chở đến gặp H1 mua xe, K3 điều khiển xe máy Honda Future biển số 52K6-6778 chở K2 đến địa chỉ số E P, Phường C, quận G rồi đi về. K2 xuống xe gọi điện cho H1, một lúc sau H1 điều khiển xe máy SH150, biển số: 59D1- 316.16 đến gặp K2, K2 trả tiễn mặt 25.000.000 đồng cho H1 rồi lấy xe, điều khiển về địa chỉ 4/15/13 Tiền L, xã B, huyện H để cất xe. Tại đây, K2 mở cốp xe máy biển số 39D1-316.16 thấy bên trong cốp xe có 01 giấy đăng ký xe, 01 giấy phép lái xe tên Nguyễn Quang H, 01 tai nghe hiệu Airpod Pro, 02 thiết bị phá sóng, K2 lấy tai nghe Airpod P sử dụng, câm theo 02 thiết bị phá sóng, sau đó điện thoại cho K3 nhờ chở K2 về nhà bạn gái K3 tại địa chỉ ấp Đ, xã T, huyện C. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, trong lúc K3 và K2 đang ngủ thì bị Công an đến kiểm tra mời về làm việc.

Quá trình điều tra bị cáo K2 đã khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên. Đồng thời, quá trình điều tra xác định, đối với Võ Tuấn K3 có chở bị cáo K2 đi mua xe nhưng K3 không biết K2 thỏa thuận mua bán xe do trộm cắp mà có nên chưa đủ cơ sở xem xét trách nhiệm hình sự đối với K3.

Tại bản Kết luận số 15/KL-HĐĐGTS kết luận: 01 xe Honda SH150, biển 59D1-316.16, trị giá 92.000.000 đồng; 01 điện thoại Samsung Galaxy Z Fold 4, 512GB trị giá 18.333.333 đồng; 01 tai nghe Airpod Pro trị giá 2.866.667 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là: 113.200.000 đồng.

Vật chứng:

- 01 xe máy, biển số 59D1-316.16, 01 tai nghe Airpod Pro, 01 giấy đăng ký xe tên Nguyễn Thị Thanh T, 01 giấy phép lái xe, 01 thẻ bảo hiểm y tế của anh H, là tài sản bị mất trộm, Cơ quan điều ra đã trả lại anh H số tài sản trên.

Ngoài ra thu giữ của Lý Bùi Đình K2:

- 01 điện thoại di động Nokia màu hồng; 01 điện thoại màu xanh, phía sau có chữ V; 02 dụng cụ hình chữ nhật có 03 trụ hình trụ; 01 áo khoác màu xanh, 02 thiết bị phá sóng;

Trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Quang H đã nhận lại tài sản, anh H yêu cầu được bồi thường chiếc điện thoại di động Samsung Fold 4, 512GB.

Tại Bản cáo trạng số 63/CT-VKS-TB ngày 12 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

- Đại diện Viện kiểm sát trong phần luận tội đã tóm tắt lại hành vi phạm tội của bị cáo, nêu ra các nguyên nhân, điều kiện phạm tội, nêu rõ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ đối với bị cáo và đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, phạt bổ sung bị cáo từ 10 triệu đồng đến 15 triệu đồng.

Về vật chứng đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu, không tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức án dành cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Lý Bùi Đình K2, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an quận T, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên, do đó các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Bản kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra, Bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận bị cáo Lý Bùi Đình K2 đã có hành vi tiêu thụ xe máy biển số 59D1- 316.16 bị trộm cắp vào ngày 25/11/2023 tại Phường B, quận T. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, được quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác và gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội. Bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức và biết rõ tác hại của việc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị, nhưng chỉ vì bản chất lười lao động, tham lợi mà bị cáo đã bất chấp, xem thường pháp luật và lợi ích của cộng đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội trong một thời gian nhằm mục đích cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hội đồng xét xử xem xét tình tiết bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 323 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy việc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương; bị cáo nhận thức được hành vi của mình nhưng vẫn cố tình phạm tội, có nhân thân xấu nên Hội đồng xét xử quyết định phạt bổ sung bị cáo số tiền 10.000.000 đồng.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Quang H có yêu cầu bị cáo bồi thường 18.333.333 đồng là giá trị chiếc điện thoại 01 điện thoại Samsung Galaxy Z Fold 4 bị mất. Tuy nhiên anh H đã xin rút lại yêu cầu bồi thường nêu trên và không có yêu cầu gì khác nên hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về vật chứng vụ án:

- Đối với 01 xe máy, biển số 59D1-316.16, 01 tai nghe Airpod Pro, 01 giấy đăng ký xe tên Nguyễn Thị Thanh T, 01 giấy phép lái xe, 01 thẻ bảo hiểm y tế, là tài sản bị mất trộm của anh H, Cơ quan điều tra đã trả lại anh H số tài sản trên là phù hợp với quy định của pháp luật.

- Đối với 01 điện thoại di động Nokia màu hồng; 01 điện thoại màu xanh, phía sau có chữ V, xét đây là những vật bị cáo dùng dể thỏa thuận, thương thảo giá mua tài sản từ người phạm tội nên cần tịch thu và nộp ngân sách nhà nước.

- Đối với 02 dụng cụ hình chữ nhật có 03 trụ hình trụ; 01 áo khoác màu xanh, 02 thiết bị phá sóng, xét đây là những vật không có giá trị nên tịch thu và tiêu hủy;

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 và 5 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ Điều 106, Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

[1] Tuyên bố bị cáo L Bùi Đình K2 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Xử phạt bị cáo: Lý Bùi Đình K2 02 (hai) năm tù

Thời hạn tù tính từ ngày 30/11/2023.

[2] Về hình phạt bổ sung: phạt bổ sung bị cáo số tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng.

[3] Về vật chứng:

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động Nokia màu hồng, 01 điện thoại Vivo màu xanh.

Tịch thu, tiêu hủy: 02 dụng cụ hình chữ nhật có 03 trụ hình trụ, 01 áo khoác màu xanh, 02 thiết bị phá sóng

(Tình trạng theo Quyết định chuyển vật chứng số 53/QĐ-VKS-TB ngày 12/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình).

[5] Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[6] Trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, NLQ;
  • - Công an quận Tân Bình;
  • - VKSND quận Tân Bình;
  • - Chi cục THADS quận Tân Bình;
  • - TAND, VKSND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Phòng HSNVCS CA Tp. HCM;
  • - Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Vũ Văn Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 67/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger