TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH
Bản án số : 67/2023/KDTM-ST
Ngày : 23/10/2023
“ V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có :
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ngọc Lan.
Các hội thẩm nhân dân :
- Ông Nguyễn Tấn Bình.
- Ông Tô Bửu Long.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Mỹ Trinh - Thư ký tòa án nhân dân thành phố Qui Nhơn, tỉnh Bình Định.
· Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Qui Nhơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa Lý - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 10 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 22/TLST-KDTM ngày 17/4/2023 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 310/2023/QĐXX-ST ngày 11/9/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 289/2023/QĐST-KDTM ngày 28/9/2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP B
Địa chỉ: Tầng 1 & tầng 5 Tòa nhà Corner stone, số 16 Phan Chu Trinh, phường Phan Chu Trinh, Quận Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Ông Lưu Quyết T - Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quang H - Giám đốc BAOVIET Bank - chi nhánh Bình Định.
Đại diện ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Trần Anh M - Phó giám đốc BAOVIET Bank - chi nhánh Bình Định.
(theo văn bản ủy quyền số 185/UQ-BVB-BDH ngày 16/6/2023) (có mặt).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu H, sinh năm: 1972
Bà Nguyễn Đường Anh H, sinh năm: 1975
Cùng địa chỉ: 298 Nguyễn Thái Học, TP. Quy Nhơn, Bình Định.
Tạm trú: 239 Nguyễn Thái Học, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
(Ông H và bà H vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Theo đơn khởi kiện ngày 13 tháng 02 năm 2023, đơn khởi kiện bổ sung ngày 10 tháng 3 năm 2023 và các lời khai tiếp theo, đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng của Ngân hàng TMCP B, ông Trần Anh M trình bày:
Ngày 13/03/2019 Ngân hàng TMCP B (sau đây gọi là Ngân hàng BAOVIET Bank) và ông Nguyễn Hữu H, bà Nguyễn Đường Anh H có ký Hợp đồng tín dụng số 0077/2019/HĐTD2/BVB53. Theo Hợp đồng tín dụng này thì Ngân hàng BAOVIET Bank cho ông H và bà H vay số tiền 1.200.000.000 đồng (Một tỷ, hai trăm triệu đồng); Mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh. Thời hạn vay: 12 tháng kể từ ngày 13/03/2019; Lãi suất: 8,5%/năm, áp dụng trong 06 tháng đầu tiên; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Ông H, bà H đã nhận đủ tiền theo khế ước nhận nợ số: 0077.01/2019/KUNN2/BVB53 ngày 13/03/2019.
Cùng trong ngày 13/03/2019 Ngân hàng B và ông Nguyễn Hữu H, bà Nguyễn Đường Anh H tiếp tục ký Hợp đồng tín dụng số: 0078/2019/HĐTD2/BVB53. Theo Hợp đồng tín dụng này, B cho ông H và bà H vay số tiền 1.800.000.000 đồng (Một tỷ, tám trăm triệu đồng); Mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh. Thời hạn vay: 12 tháng kể từ ngày 13/03/2019; Lãi suất: 5,5%/năm, áp dụng trong 03 tháng đầu tiên; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Ông H và bà H đã nhận đủ số tiền vay theo khế ước nhận nợ số: 0078.01/2019/KUNN2/BVB53 ngày 13/03/2019.
Để đảm bảo cho các khoản nợ trên, vợ chồng ông H, bà H đã thế chấp cho Ngân hàng B các tài sản gồm:
- - Quyền sử dụng đất ở tại địa chỉ: Thửa đất số: 222a, tờ bản đồ số: 21; Tổ 2, khu vực 7, phường Ngô Mây, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định thuộc sở hữu của ông Nguyễn Hữu H, bà Nguyễn Đường Anh H theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BI 353515, số vào sổ cấp GCN: CH 00538 do Ủy ban nhân dân thành phố Quy Nhơn cấp ngày 12/06/2012, cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 10/08/2012. Theo Hợp đồng thế chấp số: 1317095.A.19.HĐTC.BDH ký ngày 13/03/2019.
- - Quyền sử dụng đất và nhà ở tại địa chỉ: Thửa đất số: 220, tờ bản đồ số: 21; 298/2 Nguyễn Thái Học, phường Ngô Mây, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định thuộc sở hữu của ông Nguyễn Hữu H, bà Nguyễn Đường Anh H theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số phát hành AN 001308, số vào sổ cấp GCN: H00843 do Ủy ban nhân dân thành phố Quy Nhơn cấp ngày 27/10/2008, cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 27/04/2012. Theo Hợp đồng thế chấp số: 1317095.B.19.HĐTC.BDH ký ngày 13/03/2019.
Sau khi vay, vợ chồng ông H, bà H trả nợ không đúng hạn, Ngân hàng BAOVIET Bank đã nhiều lần làm việc, gởi thông báo cho vợ chồng ông H, bà H yêu cầu trả nợ nhưng đến nay vợ chồng ông H, bà H vẫn không thanh toán đầy đủ tiền gốc cũng như lãi cho Ngân hàng B
Tạm tính đến ngày xét xử (ngày 23/10/2023) bà Nguyễn Đường Anh H và ông Nguyễn Hữu H còn nợ BAOVIET Bank số tiền là 4.895.524.012 (bốn tỷ, tám trăm chín mươi lăm triệu, năm trăm hai mươi bốn nghìn, không trăm mười hai) đồng; trong đó nợ gốc là: 3.000.000.000 đồng và nợ lãi là: 2.895.524.012 đồng.
Nay Ngân hàng B yêu cầu ông Nguyễn Hữu H và bà Nguyễn Đường Anh H phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng B số tiền gốc và lãi nói trên là 4.895.524.012 đồng và yêu cầu ông H, bà H tiếp tục trả lãi theo hợp đồng tín dụng số: 0077/2019/HĐTD2/BVB53 ngày 13/3/2019 và Hợp đồng tín dụng số: 0078/2019/HĐTD2/BVB53 ngày 13/03/2019 kể từ ngày 24/10/2023 cho đến khi ông Hậu, bà Hoa phải thanh toán hết các khoản nợ tại Ngân hàng B
Nếu ông Hậu, bà Hoa không thanh toán số tiền trên thì Ngân hàng B có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo các Hợp đồng thế chấp số: 1317095.A.19.HĐTC.BDH ký ngày 13/03/2019 và Hợp đồng thế chấp số: 1317095.B.19.HĐTC.BDH ký ngày 13/03/2019 đã ký kết để thu hồi nợ khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Ngày 07/7/2023, Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp của ông H, bà H. Chi phí thẩm định, xem xét tại chỗ Ngân hàng B đã tạm ứng, Ngân hàng B yêu cầu ông H, bà H phải chịu.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như đã trình bày trên.
Tại bản khai ngày 06 tháng 6 năm 2023, bị đơn bà Nguyễn Đường Anh H trình bày:
Năm 2019 bà H và chồng là ông Nguyễn Hữu H có làm thủ tục vay và có thế chấp tài sản bên Ngân hàng B để kinh doanh nhưng sau đó tình hình buôn bán biến động cộng với dịch Covid bùng lên nên kinh tế khó khăn, không thuận lợi nên vợ chồng bà mất khả năng chi trả lãi hàng tháng cho Ngân hàng. Vì vậy, vợ chồng bà H có xin Ngân hàng tạm dừng lãi.
Nay Ngân hàng Bảo Việt khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà phải có nghĩa vụ trả số tiền gốc và lãi là 4.508.951.267 (Bốn tỷ, năm trăm lẻ tám triệu, chín trăm năm mươi mốt nghìn, hai trăm sáu mươi bảy đồng), lãi tính đến ngày 16/01/2023 vợ chồng bà đồng ý trả nhưng không có khả năng, vợ chồng bà đề nghị Ngân hàng B phát mãi tài sản mà vợ chồng bà đã thế chấp cho Ngân hàng có địa chỉ tại 289/2 Nguyễn Thái Học, TP. Quy Nhơn để thu hồi nợ.
Bị đơn, anh Nguyễn Hữu H :
Vắng mặt trong những lần Tòa triệu tập lấy lời khai, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nên Tòa án không tiến hành lấy lời khai của bị đơn được.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu:
- - Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm xét xử sơ thẩm. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng Dân sự, tuy nhiên Thẩm phán đã vi phạm thời hạn xét xử.
- - Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật TTDS. Bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70, 72 và 73 của Bộ luật TTDS.
- - Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ các Điều 91, 95 và 98 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 299, 323 Bộ luật Dân sự năm 2015 buộc bà Nguyễn Đường Anh H và ông Nguyễn Hữu H có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP B số tiền: 4.895.524.012 (bốn tỷ, tám trăm chín mươi lăm triệu, năm trăm hai mươi bốn nghìn, không trăm mười hai) đồng; trong đó nợ gốc là: 3.000.000.000 đồng và nợ lãi là: 1.895.524.012 đồng.
Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UB TVQH14 ngày 30/12/2016, bà Nguyễn Đường Anh H và ông Nguyễn Hữu H phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có tại hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định :
- [1] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn là bà Nguyễn Đường Anh H và ông Nguyễn Hữu H đã được Tòa triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Do đó, căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
- [2] Về yêu cầu của đương sự: Căn cứ vào các bản khai của nguyên đơn, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có đầy đủ cơ sở để xác định:
Ngân hàng B đã cho ông Nguyễn Hữu H và bà Nguyễn Đường Anh H vay số tiền là 1.200.000.000 (Một tỷ, hai trăm triệu) đồng theo Hợp đồng tín dụng số 0077/2019/HĐTD2/BVB53, ngày 13/3/2019. Ông H, bà H đã nhận đủ tiền theo khế ước nhận nợ số: 0077.01/2019/KUNN2/BVB53 ngày 13/03/2019.
Cũng trong ngày 13/03/2019 Ngân hàng BAOVIET Bank và ông Nguyễn Hữu H, bà Nguyễn Đường Anh H tiếp tục ký Hợp đồng tín dụng số: 0078/2019/HĐTD2/BVB53. Theo Hợp đồng tín dụng này, BAOVIET Bank cho ông Hậu và bà Hoa vay số tiền 1.800.000.000 (Một tỷ, tám trăm triệu) đồng; Ông Hậu và bà Hoa đã nhận đủ số tiền vay theo khế ước nhận nợ số: 0078.01/2019/KUNN2/BVB53 ngày 13/03/2019.
Để đảm bảo cho khoản nợ vay ông Nguyễn Hữu H và bà Nguyễn Đường Anh H đã thế chấp cho Ngân hàng B các tài sản gồm:
- - Quyền sử dụng đất ở tại địa chỉ: Thửa đất số: 222a, tờ bản đồ số: 21; Tổ 2, khu vực 7, phường Ngô Mây, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định thuộc sở hữu của ông Nguyễn Hữu H, bà Nguyễn Đường Anh H theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BI 353515, số vào sổ cấp GCN: CH 00538 do Ủy ban nhân dân thành phố Quy Nhơn cấp ngày 12/06/2012, cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 10/08/2012. Theo Hợp đồng thế chấp số: 1317095.A.19.HĐTC.BDH ký ngày 13/03/2019.
- - Quyền sử dụng đất và nhà ở tại địa chỉ: Thửa đất số: 220, tờ bản đồ số: 21; 298/2 Nguyễn Thái Học, phường Ngô Mây, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định thuộc sở hữu của ông Nguyễn Hữu H, bà Nguyễn Đường Anh H theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số phát hành AN 001308, số vào sổ cấp GCN: H00843 do Ủy ban nhân dân thành phố Quy Nhơn cấp ngày 27/10/2008, cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 27/04/2012. Theo Hợp đồng thế chấp số: 1317095.B.19.HĐTC.BDH ký ngày 13/03/2019.
Quá trình thực hiện hợp đồng cho vay ông Nguyễn Hữu H, bà Nguyễn Đường Anh H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Nay Ngân hàng B yêu cầu ông Nguyễn Hữu H, bà Nguyễn Đường Anh H phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng BAOVIET Bank số tiền gốc và lãi tính đến ngày xét xử (ngày 23/10/2023) là: 4.895.524.012 (bốn tỷ, tám trăm chín mươi lăm triệu, năm trăm hai mươi bốn nghìn, không trăm mười hai) đồng; trong đó vốn gốc là: 3.000.000.000 (ba tỷ) đồng và nợ lãi là: 1.895.524.102 (Một tỷ, tám trăm chín mươi lăm triệu, năm trăm hai mươi bốn nghìn, không trăm mười hai) đồng.
Ông Nguyễn Hữu H, bà Nguyễn Đường Anh H còn phải tiếp tục trả lãi theo hợp đồng tín dụng số: 0077/2019/HĐTD2/BVB53 ngày 13/3/2019 và Hợp đồng tín dụng số: 0078/2019/HĐTD2/BVB53 ngày 13/03/2019 kể từ ngày 24/10/2023 cho đến khi ông Hậu, bà Hoa phải thanh toán hết các khoản nợ tại Ngân hàng BAOVIET Bank.
Bị đơn bà Nguyễn Đường Anh H thống nhất trả toàn bộ tiền gốc và lãi cho Ngân hàng B nhưng không có khả năng để trả, vợ chồng bà H đề nghị Ngân hàng B phát mãi tài sản mà vợ chồng bà đã thế chấp cho Ngân hàng có địa chỉ tại 289/2 Nguyễn Thái Học, TP. Quy Nhơn để thu hồi nợ.
Bị đơn ông Nguyễn Hữu H đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không có ý kiến phản hồi.
Do bị đơn ông H, bà H đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền nên Ngân hàng B đã khởi kiện. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- [3] Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án thì bà Nguyễn Đường Anh H và ông Nguyễn Hữu H phải chịu 112.895.000 (Một trăm mười hai triệu, tám trăm chín mươi lăm nghìn) đồng.
Hoàn lại cho Ngân hàng B số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 56.254.000 (Năm mươi sáu triệu hai trăm năm mươi bốn nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003605 ngày 14/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn.
- [4] Về chi phí tố tụng khác: Tòa đã tiến hành xem xét, thẩm định tài sản là 4.000.000 (bốn triệu) đồng đã chi xong. Ngân hàng B đã tạm ứng nên bà Nguyễn Đường Anh H và ông Nguyễn Hữu H phải có nghĩa vụ hoàn lại cho Ngân hàng BAOVIET Bank 4.000.000 (bốn triệu) đồng.
- [5] Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng BAOVIET Bank là phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 227, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ vào các Điều 295, 299, 302, 317, 318 Bộ luật dân sự năm 2015;
Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B
1.1 Buộc bà Nguyễn Đường Anh H và ông Nguyễn Hữu H phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP B số tiền 4.895.524.012 (bốn tỷ, tám trăm chín mươi lăm triệu, năm trăm hai mươi bốn nghìn, không trăm mười hai) đồng; trong đó vốn gốc
là: 3.000.000.000 (ba tỷ) đồng và nợ lãi là: 1.895.524.012 (Một tỷ, tám trăm chín mươi lăm triệu, năm trăm hai mươi bốn nghìn, không trăm mười hai) đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bà Nguyễn Đường Anh H và ông Nguyễn Hữu H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền gốc chưa thanh toán theo hợp đồng tín dụng số 0077/2019/HĐTD2/BVB53 ngày 13/3/2019 và Hợp đồng tín dụng số 0078/2019/HĐTD2/BVB53 ngày 13/3/2019.
1.2 Trường hợp bà Nguyễn Đường Anh H và ông Nguyễn Hữu H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì toàn bộ tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số: 1317095.A.19.HĐTC.BDH ký ngày 13/03/2019 và Hợp đồng thế chấp số: 1317095.B.19.HĐTC.BDH ký ngày 13/03/2019 được xử lý thu hồi nợ theo quy định pháp luật.
1.3 Ngân hàng TMCP B có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà Nguyễn Đường Anh H và ông Nguyễn Hữu H các giấy tờ liên quan theo hợp đồng thế chấp số 1317095.A.19.HĐTC.BDH ký ngày 13/03/2019 và Hợp đồng thế chấp số: 1317095.B.19.HĐTC.BDH ký ngày 13/03/2019 ngay sau khi bà Nguyễn Đường Anh H và ông Nguyễn Hữu H hoàn thành nghĩa vụ thanh toán tiền cho Ngân hàng.
2. Về án phí:
2.1. Bà Nguyễn Đường Anh H và ông Nguyễn Hữu H phải chịu 112.895.000 (Một trăm mười hai triệu tám trăm chín mươi lăm nghìn) đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
2.2. Hoàn lại cho Ngân hàng TMCP B 56.254.000 (Năm mươi sáu triệu, hai trăm năm mươi bốn nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003605 ngày 14/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn.
3. Về chi phí xem xét, thẩm định: Bà Nguyễn Đường Anh H và ông Nguyễn Hữu H phải có nghĩa vụ hoàn lại cho Ngân hàng TMCP Bảo Việt 4.000.000 (bốn triệu) đồng.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
5. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:
5.1. Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Nơi nhận:
| THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Ngọc Lan |
Hội thẩm nhân dân | Thẩm phán- chủ toạ phiên toà | |
Tô Bửu Long | Nguyễn Tấn Bình | Huỳnh Thị Ngọc Lan |
Bản án số 67/2023/KDTM-ST ngày 23/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 67/2023/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/10/2023
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng yêu càu trả tièn
