|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HÓA Bản án số: 67/2024/HNGĐ - ST. Ngày: 23/8/2024 V/v: Ly hôn. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Tiến
Bà Mai Thị Tiếp
Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Tố Quyên - Thư ký TAND TP Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Bà Tạ Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 281/2024/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024 về việc: Ly hôn. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 220/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 109/2024/QÐST - HNGĐ ngày 05/8/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thu T - Sinh năm: 1996.
Nơi cư trú: SN 06, phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Bị đơn: Anh Nguyễn Lê K - Sinh năm: 1990.
Nơi cư trú: Lô 22 BT7 -1 đường L, phố C, phường A, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên tòa hôm nay có mặt chị T, vắng mặt anh K.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và được bổ sung bằng bản tự khai cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ, nguyên đơn chị Lê Thị Thu T trình bày:
Chị và anh Nguyễn Lê K xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu có đăng ký kết hôn vào tháng 7/2023 tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, nhưng đến tháng 03/2024 chị và anh K mới tổ chức cưới. Sau khi cưới xong vợ chồng chung sống tại Lô B B đường L, phố C, phường A, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Quá trình chung sống hòa thuận, hạnh phúc được thời gian ngắn, thì thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không còn tiếng nói chung, cuộc sống trở nên bế tắc dù đã cố gắng hết sức để hoà hợp nhưng không được, nên vợ chồng cắt đứt quan hệ tình cảm ly thân nhau từ tháng 3/2024 đến nay không quan tâm và có trách nhiệm đến nhau. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Lê K.
- Về con chung: Chị T và anh K chưa có con chung, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về tài sản, công nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn anh Nguyễn Lê K, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án và giấy triệu tập hợp lệ và thông báo các phiên họp kiểm tra, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải để anh K đến Tòa án để trình bày quan điểm của mình đối với đơn khởi kiện của chị T, nhưng anh K đều vắng mặt không đến Tòa án để trình bày và không khai báo, gây khó khăn cho Tòa án trong việc giải quyết vụ án, do vậy Tòa án đã thu thập tài liệu và thực hiện đầy đủ các bước trình tự tố tụng đối với bị đơn cố tình không khai báo.
* Tại phiên tòa hôm nay: Chị T vẫn giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn anh K, về con chung, tài sản và công nợ chung không có, nên chị không yêu cầu giải quyết.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Toà án và đương sự đã tuân thủ đúng theo qui định của Luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết cũng như xét xử vụ án. Về đường lối: Đề nghị Tòa án chấp nhận đơn của chị T. Xử cho chị Lê Thị Thu T được ly hôn anh Nguyễn Lê K. Về con cái, tài sản và công nợ chung không có, nên chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét. Về án phí: Chị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và công bố các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử nhận định.
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Lê Thị Thu T có đơn khởi kiện ly hôn với bị đơn là anh Nguyễn Lê K có nơi cư trú tại thành phố T. Do đó đây là vụ án ly hôn nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa thụ lý theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.
Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Anh Nguyễn Lê K đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
[2] Về hôn nhân: Chị Lê Thị Thu T và anh Nguyễn Lê K kết hôn với nhau tháng 7/2023, có đăng ký kết hôn tại UBND phường B, thành phố T là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống hòa thuận hạnh phúc được thời gian ngắn, thì phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không còn tiếng nói chung, cuộc sống trở nên bế tắc dù đã cố gắng hết sức để hoà hợp nhưng không được, nên vợ chồng cắt đứt quan hệ tình cảm ly thân nhau từ tháng 3/2024 đến nay không quan tâm và có trách nhiệm đến nhau.
Sau khi thụ lý vụ án, anh Nguyễn Lê K có nhận thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập để trình bày bản tự khai và thông báo các phiên họp kiểm tra, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải của Tòa án, nhưng các lần đều không có mặt tại Tòa theo như thời gian thông báo trong giấy, nhưng anh K vẫn cố tình không khai báo, vì vậy Tòa án phải lập các biên bản để có cơ sở giải quyết theo quy định của pháp luật, điều này chứng tỏ anh K không có thiện chí đoàn tụ.
Qua xác minh tại địa phương cho thấy vợ chồng có mâu thuẩn, còn nguyên nhân cụ thể như thế nào chính quyền địa phương không nắm được và thực tế theo chị T trình bày vợ chồng đã ly thân từ tháng 3/2024 đến nay và hiện tại chị T không còn sống chung với anh K, chứng tỏ tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, có kéo dài cũng không đem lại hạnh phúc, nghĩ nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật HNGĐ, xử cho chị Lê Thị Thu T được ly hôn anh Nguyễn Lê K.
[3] Về con cái: Chị T và anh K chưa có con chung, nên miễn xét.
[4] Về tài sản, công nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu của chị T.
[5] Về án phí: Căn cứ Điều 6; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị T phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ vào Điều 6; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- - Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Thu T được ly hôn anh Nguyễn Lê K.
- - Về con chung: Chị T và anh K chưa có con chung, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
- - Về tài sản, công nợ chung: Chấp nhận yêu cầu của chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về án phí: Chị T nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số BLTU/23/0001581 ngày 04/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hoá (chị T đã nộp đủ án phí DSST).
Chị T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh K có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Lan Anh |
Bản án số 67/2024/HNGĐ - ST. ngày 23/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ về ly hôn
- Số bản án: 67/2024/HNGĐ - ST.
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
