Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 67/2024/HS-ST

Ngày: 23 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lại Văn Tùng

Thẩm phán: Bà Mai Thị Minh Hồng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Quốc Khánh

Bà Nguyễn Thị Thu Hương

Ông Nguyễn Văn Thành

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo và bà Trần Thị Hồng Nhung – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Nhàn - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Cao Đình T (tên gọi khác: Không), sinh năm 1974, tại thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; Giới tính: Nam; Quê quán: Phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; Nơi thường trú: Khu phố Đ, phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Đình L, sinh năm 1938 (đã chết), con bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1939; bị cáo có vợ Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1972 đã ly hôn; Bị cáo có hai con, Con lớn Cao Trường H1, sinh năm 2005, con nhỏ Nguyễn Bảo N, sinh năm 2010; Gia đình có 6 anh chị em bị cáo là con thứ sáu. Nhân thân: Ngày 09-5-2002 Toà án tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 05 năm tù về tội vận chuyển, tàng trữ, lưu hành tiền giả (Đã xoá án tích). Ngày 24-5-2013 Công an thành phố B xử lý vi phạm hành chính, phạt tiền 7.500.000đ về hành vi vi phạm An ninh trật tự và về quản lý sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ (Đã nộp phạt). Tiền án: Ngày 26-11-2014, bị Toà án nhân dân Tối cao xử phúc thẩm tuyên phạt 7 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội Làm giả con dấu tài liệu của cơ quan, tổ

chức (tính từ ngày 22-8-2013). Ngày 27-3-2015, bị Toà án nhân dân quận Đống Đa thành phố Hà Nội xử phạt 6 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 7 năm tù của Toà án nhân dân Tối cao buộc bị cáo T phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 13 năm tù, ngày 19-10-2021 bị cáo T chấp hành xong hình phạt tù. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 31-01-2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N.

2. Nguyễn Văn S (tên gọi khác: Không), sinh năm 1987, tại thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: Số E, N, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1963, con bà Trần Thị N1, sinh năm 1966; Bị cáo có vợ Tạ Thị Đ, sinh năm 1987; Bị cáo có hai con, con lớn Nguyễn Ngọc Phan L1, sinh năm 2011, con nhỏ Nguyễn Ngọc Linh N2, sinh năm 2017; Gia đình có 2 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Nhân thân: Ngày 26-11-2014 Toà án nhân dân Tối cao xử phúc thẩm tuyên phạt 4 năm 6 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 31-01-2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N.

- Người bào chữa của bị cáo Cao Đình T: Luật sư Nguyễn Thu H2 và Luật sư Phan Văn N3 - Công ty L2 – Đoàn luật sư thành phố H; Luật sư Nguyễn Thế T2 và Luật sư Cao Thị Thanh T3 – Công ty L3 – Đoàn Luật sư thành phố H;

- Người bào chữa của bị cáo Nguyễn Văn S: Luật sư Ngô Văn Q, Văn phòng L4 Đoàn Luật sư tỉnh N;

- Bị hại: Anh Lê Mạnh H3, sinh năm 1993 và chị Dương Thị Đ1, sinh năm 1994; Đều cùng nơi thường trú: Tổ dân phố Đ, thị trấn R, huyện N, tỉnh Nam Định;

- Nguyên đơn dân sự: Ngân hàng TMCP V; Địa chỉ: Số H, L, quận Đ, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D - Chủ tịch Hội đồng quản trị; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hồng B - Trưởng Phòng xử lý nợ Phản ứng nhanh Khách hàng cá nhân miền B - Trung tâm thu hồi nợ Khách hàng cá nhân - khối Quản trị rủi ro;

Người đại diện theo ủy quyền lại của ông B: Ông Trần Đức A – Trưởng bộ phận xử lý nợ V1 và ông Nguyễn Sỹ T4 - Chuyên viên xử lý nợ V1.

Công ty cổ phần M1; Địa chỉ: Tầng D, Tòa nhà C, số B, phố T, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Thanh H4 chức vụ - Chủ tịch Hội đồng quản trị; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Anh T5 chức vụ - Tổng giám đốc; người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Nguyễn Phúc T6 – Trưởng bộ phận xử lý nợ; ông Nguyễn Ngọc T7 – Chuyên viên xử lý nợ;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Trần Văn Đ2, sinh năm 1984; Nơi thường trú: Khu phố D, phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh;

2. Anh Vũ Ngọc M, sinh năm 1988; Nơi thường trú: Tổ A, phường Y, quận H, thành phố Hà Nội;

- Người làm chứng: Anh Lê Dương H5, sinh năm 1996; Nơi thường trú: Thôn C, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

Tại phiên toà có mặt bị cáo Cao Đình T, Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Thế T2, bà Cao Thị Thanh T3, ông Ngô Văn Q, anh Lê Mạnh H3, chị Dương Thị Đ1, anh Trần Văn Đ2, ông Nguyễn Ngọc T7. Vắng mặt anh Lê Dương H5, bà Nguyễn Thu H2, ông Phan Văn N3, anh Vũ Ngọc M, ông Trần Đức A, ông Nguyễn Sỹ T4, ông Nguyễn Phúc T6.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 7 năm 2022 Cao Đình T ở khu phố Đ, phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh, có nhu cầu mua ôtô theo hình thức trả góp ngân hàng tuy nhiên T thuộc diện nợ xấu, không đủ điều kiện mua nên T nhờ bạn mình Trần Văn Đ2 ở khu phố D, phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh đứng tên làm thủ tục mua trả góp xe ôtô Huyndai Santafe màu đen, BKS: 99A-56425 qua Ngân hàng Thương mại cổ phần V (V2) chi nhánh B1 với tổng giá trị 1.600.000.000 đồng (một tỷ sáu trăm triệu đồng), trả trước 600.000.000 đồng. Ngày 16-12-2022, T đem thế chấp xe ôtô Huyndai Santafe màu đen, BKS: 99A-56425 của mình để vay 200.000.000₫ của anh Vũ Ngọc M ở tổ A, phường Y, quận H, thành phố Hà Nội. Khi giao xe T đưa cho anh M giấy tờ đăng kiểm, giấy biên nhận thế chấp của ngân hàng V2 cùng 01 chìa khoá xe, T vẫn cầm 01 chìa khoá phụ của xe ô tô.

Anh M và vợ chồng anh Lê Mạnh H3, chị Dương Thị Đ1 đều ở tổ dân phố Đ, thị trấn R, huyện N, tỉnh Nam Định có quen biết với nhau từ trước. Thời điểm này, Anh H6 có nhu cầu sử dụng xe ô tô nên liên hệ với anh M đặt vấn đề mượn xe. Lúc này anh M nói việc T đang cầm cố chiếc xe ô tô Santafe BKS: 99A-56425 với số tiền 200.000.000đ. Anh M thỏa thuận với anh H6 là anh Hoàng c số tiền 200.000.000đ cho anh M, thì anh M sẽ giao chiếc xe ô tô Santafe BKS: 99A-56425 cho anh H6 quản lý, sử dụng. Ngày 16-12-2022 chị Đ1 sử dụng tài khoản ngân hàng T9 số 19029085203028 mang tên Dương Thị Đ1 chuyển vào số tài khoản 8820.18922.9999 ngân hàng M2 của anh M số tiền 200.000.000đ. Đến chiều cùng ngày anh H6 trực tiếp đến gặp anh M tại thành phố Hà Nội để lấy chiếc xe ô tô trên về sử dụng. Vài ngày sau anh M nói với anh H6T cần vay thêm 150.000.000đ nên bảo anh H6 chuyển tiếp cho anh M 150.000.000đ rồi đưa số tiền này cho Cao Đình T vay, anh H6 đồng ý. Ngày 19-12-2022, anh H6 bảo vợ mình là chị Dương Thị Đ1 chuyển khoản từ số tài

khoản 19029085203028 tại ngân hàng T9 đến số tài khoản của anh M số tiền 200.000.000đ trong đó có số tiền 50.000.000₫ anh M vay của vợ chồng anh H6, còn số tiền 150.000.000₫ anh M chuyển khoản cho T vay. Đến tháng 01 năm 2023, T nói với M muốn bán xe ô tô trên và hỏi vay thêm 100 triệu anh M trả lời mình không còn tiền và nói với T chiếc xe ô tô này H6 đang quản lý sử dụng, anh M hỏi H6 nếu H6 đồng ý mua xe ô tô sẽ trực tiếp chuyển tiền cho T, sau đó anh M điện thoại cho anh H6 về nội dung này, anh M nói với anh H6 là chuyển tiếp cho T 100.000.000đ coi như là tiền đặt cọc mua xe. Anh H6 đồng ý và ngày 18-01-2023 chị Đ1 (vợ anh H6) chuyển số tiền 100.000.000đ vào số tài khoản 0989.217.889 ngân hàng V3 của T với nội dung “M ck tien xe Santa Fe bien ks 99a 564.25". Do không còn điều kiện khả năng chi trả, thông qua sự giới thiệu của anh M nên T đã thỏa thuận, đồng ý bán lại chiếc xe ôtô trên cho anh H6. Ngày 14-02-2023, tại nhà của T ở khu phố Đ, phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh có anh M, vợ chồng T và vợ chồng anh H6 đã thỏa thuận, thống nhất với nhau về việc T bán xe ô tô BKS 99A-564.25 cho anh H6 với giá là 1.170.000.000 đồng (một tỷ một trăm bảy mươi triệu đồng), đã thanh toán trước 450.000.000 đồng (là số tiền T vay của anh M trước đó, anh H6 đã chuyển cho anh M), số tiền còn lại thống nhất sau khi T làm thủ tục rút giấy tờ đăng ký xe từ ngân hàng thì anh H6 sẽ thanh toán hết cho T và làm hợp đồng mua bán sau. Thời điểm này T biết anh H6 là người đang quản lý, sử dụng chiếc xe ôtô Huyndai Santafe BKS 99A-564.25 từ tháng 12 năm 2022 và anh H6 biết việc Trần Văn Đ2 là người đứng tên làm thủ tục mua trả góp xe ô tô giúp cho T.

Tháng 6 năm 2023, anh Đ2 thông báo cho T biết việc do chậm trả tiền nhiều tháng cho ngân hàng V2 nên ngân hàng yêu cầu trình diện xe cho ngân hàng. Tại thời điểm này, T đã nhiều tháng không trả tiền cho ngân hàng, xe ô tô đã thỏa thuận bán cho anh H6 và anh H6 đang quản lý, do đó để lấy xe về trình diện Ngân hàng nên T đã nảy sinh ý định sẽ lấy trộm chiếc xe ôtô Santafe BKS: 99A-56425 về đưa cho anh Đ2 để trình diện xe tại ngân hàng. Khoảng 14 giờ ngày 26-8-2023, Nguyễn Văn S ở số E N, phường N, thành phố B là bạn với T đến nhà Trường chơi, T đã nói cho S biết việc T đã mang xe ô tô Santafe BKS: 99A- 56425 của mình cầm cố chỗ anh M ở Hà Nội với số tiền 450.000.000đ, anh M đã mang xe đưa cho anh H6 quản lý, bây giờ do T chậm trả tiền trả góp ngân hàng hai tháng nên ngân hàng yêu cầu trình diện xe để ngân hàng kiểm tra xe. Đầu giờ chiều ngày 26-8-2023, T đưa cho Sáng 01 chìa khóa ô tô trên và chỉ đạo Sáng xuống nhà anh Lê Mạnh H3 để lấy trộm chiếc xe ôtô Santafe BKS: 99A- 56425, Sáng cứ tìm thấy xe là lấy về không phải thông qua ai, còn để sau này T nói chuyện với anh M sau. T cung cấp cho Sáng tài khoản Facebook của anh H3 (trong đó có thông tin địa chỉ, hình ảnh chiếc xe và số điện thoại của anh H3) cùng 2.000.000 đồng tiền đi đường, S đồng ý. T liền gọi điện cho anh Lê Dương H5 ở thôn C, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên làm nghề lái taxi đến để chở S đi xuống Nam Định. T không nói cho H5 biết việc S đi lấy trộm xe ô tô. Chiều

ngày 26-8-2023, T gọi điện cho Đ2 nói là xe đang bên Nam Định và sẽ bảo S (là bạn của T) lấy xe về cho Đ2 để giải quyết với ngân hàng. Khoảng 20h30 phút cùng ngày S gọi điện cho Đ2 nói: “anh T bảo em xuống Nam Định lấy xe cho anh, anh đang ở đâu, em lấy xe về đưa cho anh”. Đ2 nói: “anh đang ở nhà bao giờ lấy về thì điện cho anh”.

Khoảng 21 giờ cùng ngày H5 điều khiển xe ôtô Attrage BKS: 89A-32705 chở Sáng đến tỉnh Nam Định. Trên đường đi Sáng theo thông tin trên facebook của anh H3 tìm được địa chỉ quán karaoke và quán bán quần áo của anh H3 ở thị trấn R. Sáng bảo H5 chở xuống khu vực thị trấn R, huyện N, tỉnh Nam Định đến địa chỉ quán quần áo trước, lúc này vào khoảng 22h30' nhưng không nhìn thấy xe ôtô Santafe BKS 99A-56425 ở đó nên S và anh H5 đi ăn đêm. Khoảng 23h tối ngày 26-8-2023, anh H3 điều khiển xe ôtôSantafe BKS 99A-564.25 đỗ tại sân nhà anh Tạ Quang C (liền kề phía Bắc nhà anh H3 ở tổ dân phố Đ) rồi đi vào nhà ngủ. Sau khi ăn xong khoảng hơn 23 giờ cùng ngày S bảo anh H5 chở đi qua địa chỉ quán karaoke của anh H3 để tìm xe nhưng không thấy nên tiếp tục đi theo trục đường chính, khi đi qua quán karaoke khoảng 2km thì S nhìn thấy đầu xe ôtô Santafe BKS 99A-56425 nhô ra ngoài hiên một nhà dân ở phía bên trái đường đi, ngôi nhà này đã đóng cửa tắt điện hết, không có ai trông coi, S gọi điện thoại cho T nói đã phát hiện thấy xe ôtô, T bảo Sáng cứ lấy xe ôtô về. Sau đó, S bảo với anh H5 dừng xe và nói “xe nhà anh đây rồi”, anh H5 dừng xe lại ở phía bên phải đường đi còn Sáng xuống xe, đi bộ tiến đến chỗ xe ôtô Santafe BKS 99A-56425, Sáng ngó nghiêng không thấy ai xung quanh trông coi nên đã dùng chìa khóa mà T đã đưa trước đó mở cửa xe, lên xe nổ máy xe, chạy ra ngoài đường rẽ trái đi về hướng thành phố N. Sáng điều khiển xe chạy trước lên thành phố N rồi hướng về Hải Phòng còn anh H5 chạy theo sau. Trên đường về Bắc Ninh, S có gọi cho anh H5 bảo: “mày về đường nào về thì về, còn anh đi đường khác anh về”. Sau khi lấy được xe Sáng gọi điện báo cho T biết việc đã lấy được xe ôtô thì T bảo Sáng đi về khu vực cầu H ở T, Bắc Ninh để đưa xe ôtô cho T. Khoảng 02h ngày 27-8-2023 S gọi cho Đ2 nói: “em lấy được xe rồi, em đang trên đường về, anh ở đâu em mang xe sang cho anh”, Đ2 trả lời: “Thôi muộn rồi, anh đang ngủ, có gì mai ngủ dậy anh gọi”. Khoảng 03h ngày 27-8-2023 S gặp T ở ngoài đường gần cầu H và giao xe ôtô cho T. Sau đó T chở S về nhà để lấy xe máy. Khoảng 12 giờ ngày 27-8-2023 T mang xe ô tô trên đến giao cho Trần Văn Đ2 ở hồ câu nhà ông Nguyễn Khắc C1 (cậu của anh Đ2), ở phố T, phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh và bảo Đ2 đem xe giải quyết với ngân hàng.

Đến 8h sáng ngày 27-8-2023, anh H3 ngủ dậy, phát hiện xe ô tô bị mất trộm. Sau đó, anh H3 đã lên Công an huyện N trình báo. Khi được biết Cơ quan Công an huyện N, tỉnh Nam Định triệu tập về làm việc liên quan đến chiếc xe ôtô BKS: 99A-56425, do sợ phát hiện về hành vi phạm tội của mình nên Cao Đình TNguyễn Văn S đã bỏ trốn khỏi địa phương.

Chiều ngày 27-8-2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã tiến hành triệu tập làm việc người liên quan, thu giữ xe ô tô BKS 99A-564.25 do Trần Văn Đ2 tự giác giao nộp tại Công an phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Cơ quan CSĐT-Công an huyện N đã trưng cầu định giá tài sản. Tại bản kết luận số 14/HĐ-ĐGTS ngày 29-8-2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N xác định xe ôtô Santafe BKS 99A-564.25 của anh Lê Mạnh H3 bị mất trộm đêm ngày 26 rạng sáng ngày 27-8-2023 có giá trị là 1.027.333.000 đồng (Một tỷ không trăm hai mươi bảy triệu ba trăm ba mươi ba nghìn đồng). Cơ quan CSĐT Công an huyện N chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan CSĐT (PC02) tiến hành giải quyết theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra vụ án Cơ quan CSĐT (PC02) Công an tỉnh N tiến hành xác minh, triệu tập Cao Đình TNguyễn Văn S tuy nhiên TS bỏ trốn gây khó khăn cho quá trình điều tra. Đến ngày 30-01-2024 Cơ quan CSĐT mới triệu tập được T, Sáng khi đang lẩn trốn tại Hà Nội và đấu tranh làm rõ hành vi trộm cắp chiếc xe ôtô Santafe BKS 99A-564.25. Bản thân T, S đã thành khẩn khai báo và nhận thức được hành vi lấy trộm chiếc xe ô tô phù hợp với tài liệu điều tra và diễn biến của vụ án.

* Cáo trạng số 38/CTr-VKSNÐ-P2 ngày 22-5-2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định truy tố các bị cáo Cao Đình TNguyễn Văn S về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

* Tại phiên toà, các bị cáo Cao Đình TNguyễn Văn S khai nhận đã thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản đúng như nội dung vụ án đã nêu ở trên. Các bị cáo công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện và thực sự ăn năn hối lỗi, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật áp dụng như cáo trạng số 38/CTr-VKSNÐ-P2 ngày 22-5-2024. Sau khi phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện, nguyên nhân, điều kiện phạm tội, vị trí, vai trò, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Cao Đình T, Nguyễn Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản".

- Áp dụng điểm a khoản 4 điều 173; điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 17; Điều 58 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Đề nghị xử phạt Cao Đình T từ 7 năm 06 tháng đến 8 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31-01-2024.

- Áp dụng điểm a khoản 4 điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 17; Điều 58 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Đề nghị xử phạt Nguyễn Văn S từ 7 năm đến 7 năm 6 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31-01-2024.

Đồng thời đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Về án phí các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật. Đề nghị áp dụng Điều 47 của BLHS, Điều 106 BLTTHS để xử lý vật chứng của vụ án.

Người bào chữa cho bị cáo Cao Đình T là ông Nguyễn Thế T2, bà Cao Thị Thanh T3 trình bày: Việc truy tố bị cáo Cao Đình T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 4 điều 173 BLHS là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, tài sản trộm cắp đã được thu hồi ngay vẫn còn nguyên vẹn, tài sản trộm cắp bị cáo cũng có một phần tiền trong đó, bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có nghề nghiệp ổn định, đã ly hôn vợ lại đang là lao định chính trong gia đình phải phụng dưỡng mẹ già nuôi con nhỏ ăn học. Bị cáo đã có thành tích giúp đỡ cơ quan pháp luật phát hiện điều tra tội phạm, trước khi mở phiên tòa bị cáo đã tác động đến gia đình nộp một số tiền để bồi thường cho người bị hại. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 BLHS xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất, tạo cho bị cáo cơ hội sửa chữa lỗi lầm, thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn S là ông Ngô Văn Q trình bày: Việc truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 4 điều 173 BLHS là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, tài sản trộm cắp đã được thu hồi ngay vẫn còn nguyên vẹn, bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có nghề nghiệp ổn định, đang là lao định chính trong gia đình nuôi con nhỏ ăn học, do hiểu biết và nhận thức pháp luật có phần hạn chế, bị cáo tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức, bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp theo sự chỉ đạo của T, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 BLHS xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất, tạo cho bị cáo cơ hội sửa chữa lỗi lầm, thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định, Kiểm sát viên

trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo Cao Đình T, Nguyễn Văn S không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, có cơ sở xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo được chứng minh bằng lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay; lời khai của bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; biên bản vụ việc, kết luận định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 23 giờ ngày 26-8-2023, để thực hiện hành vi lấy trộm xe ô tô Santafe BKS 99A – 56425 về trình diện ngân hàng V1 chi nhánh B1 do nhiều tháng Cao Đình T không có tiền trả cho ngân hàng. Mặc dù biết xe ô tô trên đang do anh Lê Mạnh H3 ở tổ D, thị trấn R, huyện N, tỉnh Nam Định quản lý, sử dụng nhưng Cao Đình T đã có hành vi chỉ đạo Nguyễn Văn S lén lút trộm cắp chiếc xe ô tô Santafe BKS 99A – 56425 trị giá 1.027.333.000₫ đang để ở nhà anh Lê Mạnh H3 tại tổ D, thị trấn R, huyện N, tỉnh Nam Định. Hành vi của Cao Đình T, Nguyễn Văn S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 173 BLHS. Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định đã truy tố và luận tội đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét hành vi các bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội; hành vi đó không những xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân mà còn gây mất trật tự trị an xã hội, gây bất bình trong nhân dân. Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo nhận thức được tính nguy hiểm của hành vi do mình thực hiện và có đủ khả năng điều khiển hành vi của mình. Do đó, cần thiết phải xử lý nghiêm đối với các bị cáo nhằm trừng trị, giáo dục các bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

[4] Xét vị trí, vai trò của các bị cáo trong vụ án thì thấy. Đây là vụ án đồng phạm, nhưng giản đơn, Cao Đình T là người trực tiếp chỉ đạo Nguyễn Văn S đến thị trấn R, huyện N, tỉnh Nam Định để lấy trộm xe ô tô Santafe BKS 99A – 56425, T là người khởi xướng, chủ mưu, rủ rê lôi kéo bị cáo S thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên T giữ vị trí số 1 trong vụ án. Nguyễn Văn S là người thực hành tích cực trực tiếp đi lấy trộm xe, mặc dù biết rất rõ chiếc xe ô tô Santafe BKS 99A – 56425, T đang đem cầm cố cho anh Lê Mạnh H3, không thuộc quyền quản lý của T nhưng Sáng vẫn cố ý đi lấy trộm xe mang về cho T nên

trong vụ án này S chỉ tham gia với vai trò thực hành giúp sức làm theo sự chỉ đạo điều hành của T nên giữ vị trí thứ yếu trong vụ án.

[5] Về nhân thân: Ngày 09-5-2002 bị cáo Cao Đình T bị Toà án tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 05 năm tù về tội vận chuyển, tàng trữ, lưu hành tiền giả. Ngày 24-5-2013 Công an T xử lý vi phạm hành chính, phạt tiền 7.500.000đ về hành vi vi phạm An ninh trật tự và về quản lý sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ. Ngày 26-11-2014 bị cáo Nguyễn Văn S bị Toà án nhân dân Tối cao xử phúc thẩm tuyên phạt 4 năm 6 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Đến nay bị cáo T đã nộp phạt, cả bị cáo T và bị cáo S đều đã được xoá án tích nên hai bị cáo đều có nhân thân xấu. Ngày 26-11-2014 bị cáo Cao Đình T bị Toà án nhân dân Tối cao xử phúc thẩm tuyên phạt 7 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội Làm giả con dấu tài liệu của cơ quan, tổ chức. Ngày 27-3-2015, bị cáo T bị Toà án nhân dân quận Đống Đa – TP . xử phạt 6 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt 7 năm tù của Toà án nhân dân Tối cao buộc T phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 bản án là 13 năm tù nên ở lần phạm tội này bị cáo T không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mình. Trong vụ án này bị cáo S được coi là chưa có tiền án tiền sự.

[6] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo trong vụ án thì thấy: Trong vụ án này bị cáo Nguyễn Văn S không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo Cao Đình T đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng chưa được xóa án tích mà lại phạm tội đặc biệt nghiêm trọng nên T phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm nguy hiểm được quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 BLHS. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; Bị cáo T đã tích cực giúp đỡ cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện điều tra tội phạm, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử bị cáo T đã tác động gia đình nộp được số tiền 20.000.000đ để khắc phục một phần hậu quả cho người bị hại nên bị cáo T còn được hưởng thêm hai tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, t khoản 1 Điều 51 BLHS. Gia đình bị cáo T, gia đình bị cáo S đều có đơn đề nghị trình bày điều kiện hoàn cảnh gia đình, bị cáo T đã ly hôn đang phải nuôi hai con ăn học, đơn đề nghị của gia đình hai bị cáo đều có xác nhận của chính quyền địa phương, bị cáo S đang là lao động chính trong gia đình, hiểu biết và nhận thức pháp luật có phần hạn chế, bị cáo tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức, có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản theo sự chỉ đạo của T với mục đích muốn giúp đỡ T lấy xe ô tô về để trình diện cho Ngân hàng mà không nghĩ đến hậu quả xảy ra nên bị cáo TS còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51

BLHS. Do các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có thể xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo là thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước đối với người phạm tội. Hội đồng xét xử có thể áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự cho hai bị cáo T và Sáng ở mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng mà viện kiểm sát đã truy tố như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là phù hợp.

[7] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, vị trí vai trò đặc điểm nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đã được phân tích ở trên. Xét thấy, Cao Đình T là người khởi xướng, Nguyễn Văn S là người thực hành tích cực bản thân T, S đều có nhân thân xấu, bị cáo T có tiền án chưa được xoá án. Vì vậy, cần phải cách ly các bị cáo Cao Đình T, Nguyễn Văn S ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội. Do có vị trí, vai trò khác nhau nên khi quyết định hình phạt có thể cho bị cáo T ở mức hình phạt cao hơn bị cáo S là phù hợp pháp luật.

[8] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Do đó, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy các bị cáo T, S là lao động tự do, thu nhập thấp, điều kiện kinh tế gia đình gặp khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo T và Sáng là phù hợp.

[9] Đối với Lê Dương H5 là lái taxi được Cao Đình T thuê chở Nguyễn Văn S đi trộm cắp xe ô tô đang do anh H3 quản lý, sử dụng. Quá trình điều tra xác định H5 được thuê chở Sáng từ Bắc Ninh đến Nam Định, không biết S đi trộm cắp tài sản nên không đồng phạm với T và Sáng. Vì vậy, không xem xét trách nhiệm hình sự đối với H5 là phù hợp. Đối với Trần Văn Đ2 là người đứng tên làm thủ tục mua xe trả góp xe ô tô Huyndai Santafe, BKS 99A – 56425 qua ngân hàng V1. Quá trình điều tra xác định Trần Văn Đ2 chỉ là người đứng tên thế chấp chiếc xe ô tô vay tiền ngân hàng hộ T, khi ngân hàng yêu cầu trình diện xe thì Đ2 thông báo cho T biết, sau đó nhận xe ô tô do T giao. Đ2 không biết việc T và Sáng trộm cắp xe mang về giao cho mình nên không có cơ sở xem xét trách nhiệm hình sự của Đ2 là phù hợp.

[10] Về xử lý vật chứng của vụ án: Đối với các vật chứng, tài sản đã thu giữ trong quá trình điều tra gồm: Một xe ô tô Huyndai Santafe màu đen BKS: 99A-56425 do Trần Văn Đ2 tự nguyện giao nộp, một điện thoại di động nhãn

hiệu Iphone đã qua sử dụng, một điện thoại Nokia đã qua sử dụng thu giữ của Cao Đình T, một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone đã qua sử dụng, một điện thoại Redmi đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn S. Xét chiếc xe ô tô Huyndai Santafe màu đen BKS: 99A-56425 đang được thế chấp tại Ngân hàng Thương mại cổ phần V (V2) chi nhánh B1, hiện nay chiếc xe này đã được thu hồi còn nguyên vẹn. Ngày 04-01-2024 Ngân hàng V2 đã có công văn số 36 đề nghị xin được nhận bàn giao lại chiếc xe ô tô Santafe BKS: 99A-56425 để thu hồi khoản nợ của Trần Văn Đ2. Hội đồng xét xử xét thấy cần tuyên giao chiếc xe này cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V được quản lý để làm thủ tục bán đấu giá theo quy định của pháp luật để thanh lý thu hồi số nợ còn lại là phù hợp pháp luật. Đối với một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, các bị cáo sử dụng làm công cụ phạm tội nên cần tuyên tịch thu hoá giá để sung công quỹ của Nhà nước; Đối với hai chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone đã qua sử dụng không liên quan đến hành vi phạm tội nên tuyên trả lại cho bị cáo T và Sáng là phù hợp pháp luật nhưng cần tiếp tục tạm giữ hai chiếc điện thoại này để đảm bảo thi hành án về án phí và khoản tiền bồi thường cho người bị hại.

[11] Về trách nhiệm dân sự: Đối với số tiền 450.000.000đ vợ chồng anh Lê Mạnh H3 và chị Dương Thị Đ1 đã chuyển cho bị cáo T để đặt cọc mua chiếc xe ô tô Huyndai Santafe màu đen BKS: 99A-56425. Đến nay chiếc xe này đã được Hội đồng xét xử giao cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V quản lý để xử lý thu hồi nợ, trong giai đoạn điều tra và tại phiên toà hôm nay anh H3, chị Đ1 yêu cầu bị cáo T phải hoàn trả lại vợ chồng anh H3, chị Đ1 số tiền 450.000.000₫, ngày 22-7-2024 gia định bị cáo T đã tự nguyện nộp số tiền 20.000.000đ tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nam Định để khắc phục một phần hậu quả bồi thường cho người bị hại. Xét thấy, yêu cầu này của anh H3, chị Đ1 là có căn cứ nên Hội đồng xét xử cần buộc bị cáo T phải có trách nhiệm thanh toán trả lại cho vợ chồng anh H3, chị Đ1 số tiền 450.000.000 đồng, đối trừ vào số tiền 20.000.000₫ gia đình bị cáo T đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nam Định thì bị cáo T còn phải có trách nhiệm bồi thường cho vợ chồng anh H3, chị Đ1 số tiền 430.000.000 đồng là phù hợp pháp luật. Ngày 01-7-2022 Ngân hàng Thương mại cổ phần V chi nhánh B1 đã cho anh Trần Văn Đ2 vay số tiền 999.000.000₫ theo hợp đồng cho vay số LN2206246069694, ngày 16-7-2022 Ngân hàng Thương mại cổ phần V chi nhánh B1 đã cho anh Trần Văn Đ2 vay thẻ tín dụng số tiền 20.000.000đ. Tổng cộng hai khoản là 1.019.000.000đ, anh Đ2 đã dùng chiếc xe ô tô Huyndai Santafe màu đen BKS: 99A-56425 để thế chấp cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V chi nhánh B1 theo hợp đồng thế chấp số LN2206246069694 ngày 01-7-2022, tính đến ngày xét xử sơ thẩm 23-7-2024 thì anh Đ2 còn nợ của Ngân hàng Thương mại cổ phần V tổng số tiền (nợ gốc, nợ

lãi). Tại bản kết luận số 14/HĐ-ĐGTS ngày 29-8-2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N xác định xe ôtô Santafe BKS 99A-564.25 có giá trị là 1.027.333.000 đồng (Một tỷ không trăm hai mươi bảy triệu ba trăm ba mươi ba nghìn đồng). Ngân hàng Thương mại cổ phần V có quyền đưa chiếc xe ô tô nói trên ra bán đấu giá theo quy định của pháp luật để thu hồi số nợ còn lại tính đến ngày xét xử sơ thẩm hôm nay là 1.056.368.969đ. Nếu số tiền bán chiếc xe ô tô Huyndai Santafe màu đen BKS: 99A-56425 không đủ để trả cho Ngân hàng thì anh Đ2 còn phải tiếp tục có trách nhiệm thanh toán số tiền còn thiếu cho ngân hàng. Trường hợp sau khi Ngân hàng đã thu hồi đủ số nợ gốc, nợ lãi và các khoản chi phí bán đấu giá thanh lý tài sản, số tiền còn dư lại thì Ngân hàng sẽ có trách nhiệm thanh toán trả lại cho vợ chồng anh H3, chị Đ1 theo sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo T, anh Đ2 và người đại diện theo ủy quyền lại của Công ty cổ phần M1 tại phiên tòa hôm nay là phù hợp.

[12] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Án phí dân sự sơ thẩm buộc bị cáo Cao Đình T phải nộp theo quy định của pháp luật.

[13] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 173; điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 17; Điều 58 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với Cao Đình T.
  2. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 17; Điều 58 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với Nguyễn Văn S.

  3. Tuyên bố các bị cáo Cao Đình T, Nguyễn Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản".
    1. Xử phạt Cao Đình T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 31-01-2024.
    2. Xử phạt Nguyễn Văn S 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 31-01-2024.
  4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS năm 2015;

    Tuyên tịch thu hoá giá sung quỹ Nhà nước một điện thoại di động nhãn hiệu Nokia đã qua sử dụng thu giữ của Cao Đình T, một điện thoại di động nhãn hiệu Redmi đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn S.

    Tuyên trả lại bị cáo Cao Đình T một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone đã qua sử dụng, Trả lại bị cáo Nguyễn Văn S một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone đã qua sử dụng nhưng cần tiếp tục tạm giữ hai chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone đã qua sử dụng này để đảm bảo thi hành án về án phí và khoản tiền bồi thường cho người bị hại.

    Giao cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V được quản lý chiếc xe ô tô Huyndai Santafe màu đen BKS 99A-56425 thu giữ trong quá trình điều tra để làm thủ tục bán đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật để thu hồi số nợ gốc và nợ lãi còn lại của anh Trần Văn Đ2 chưa thanh toán trả nợ cho ngân hàng.

  5. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Cao Đình T phải có trách nhiệm thanh toán trả lại cho vợ chồng anh Lê Mạnh H3 và chị Dương Thị Đ1 số tiền 450.000.000₫ (Bốn trăm năm mươi triệu đồng) đối trừ vào số tiền 20.000.000₫ gia đình bị cáo T đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nam Định thì bị cáo còn phải có trách nhiệm bồi thường cho vợ chồng anh H3, chị Đ1 số tiền 430.000.000đ (Bốn trăm ba mươi triệu đồng). Vợ chồng anh Lê Mạnh H3 và chị Dương Thị Đ1 được nhận số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nam Định. Sau khi Ngân hàng Thương mại cổ phần V bán đấu giá chiếc xe ô tô Huyndai Santafe màu đen BKS 99A-56425, nếu số tiền bán chiếc xe ô tô không đủ để trả cho Ngân hàng thì anh Trần Văn Đ2 còn phải tiếp tục có trách nhiệm thanh toán trả số tiền còn thiếu cho ngân hàng. Trường hợp sau khi Ngân hàng đã thu hồi đủ số nợ gốc, nợ lãi và các khoản chi phí bán đấu giá thanh lý tài sản, số tiền còn dư lại thì Ngân hàng sẽ có trách nhiệm thanh toán trả lại cho vợ chồng anh H3, chị Đ1.

    (Vật chứng đang được quản lý tại kho vật chứng của Cục thi hành án tỉnh Nam Định có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng số 72/24 ngày 12-6-2024 giữa Công an tỉnh N và Cục thi hành án dân sự tỉnh Nam Định).

  6. Nghĩa vụ thi hành án: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động thi hành án) hoặc kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
  7. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Cao Đình T, Nguyễn Văn S mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  8. Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Cao Đình T phải nộp 21.200.000₫ (Hai mươi mốt triệu hai trăm nghìn đồng).

Các bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Nguyên đơn dân sự, người có nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao; VKSND Cấp cao
  • - CA; VKS tỉnh Nam Định;
  • - Cục THADS tỉnh Nam Định;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lại Văn Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2024/HS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 67/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cao Đình Tr và đồng phạm - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger