Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2024/HS-ST

Ngày 23-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trình

Ông Đặng Văn Khánh

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Hà - Thư ký Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thùy Khánh Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an thành phố Đ, Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 52/2024/TLST- HS ngày 05 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Võ Văn B; sinh ngày 25 tháng 9 năm 1997; nơi sinh: thành phố Đà Nẵng; nơi ĐKNKTT: Tổ B, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng; nơi cư trú hiện nay: Số I đường V, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 09/12; con ông Võ Văn B1 (Đã chết) và bà Từ Thị N. Gia đình bị cáo có 02 người con, bị cáo là con thứ 02; Tiền án: Bản án số 53/2021/HS-ST ngày 24 tháng 5 năm 2021 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tuyên phạt 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong bản án vào ngày 22 tháng 5 năm 2023; Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt từ ngày 25/02/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam H - Công an thành phố Đ; có mặt tại phiên tòa.

2. Huỳnh Ngọc Đ; sinh ngày 02 tháng 11 năm 1974; nơi sinh: Đà Nẵng; Nơi ĐKNKTT: Tổ D, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng; nơi cư trú hiện nay: Tổ I, phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ văn hóa: 05/12; con ông Huỳnh Hoàng M (Đã chết) và bà Nguyễn Thị K. Gia đình bị cáo có 06 người con, bị cáo là con thứ 02. Bị cáo có 02 con, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2011.

Tiền án: Bản án số 14/HSST ngày 12 tháng 01 năm 2000 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng tuyên phạt 08 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, chấp hành xong hình phạt chính vào ngày 07 tháng 10 năm 1999; chưa chấp hành hình phạt bổ sung (phạt tiền); Tiền sự: Không;

Nhân thân: Bản án số 59/HSST ngày 17 tháng 11 năm 2004 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong toàn bộ bản án vào ngày 05 tháng 10 năm 2012. Bản án số 53/2015/HSPT ngày 17 tháng 3 năm 2016 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt 18 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Bản án số 35/2016/HSST ngày 18 tháng 3 năm 2016 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xử phạt 03 năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt chung của 02 bản án là 04 năm 05 tháng 22 ngày tù (đã trừ thời hạn tạm giam là 09 ngày). Chấp hành xong toàn bộ 02 bản án vào ngày 17 tháng 01 năm 2020. Bị cáo bị bắt từ ngày 25/02/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam H - Công an thành phố Đ ; có mặt tại phiên tòa.

3. Trịnh Thúy V, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1976; nơi sinh: Đà Nẵng; nơi cư trú: Tổ I, phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Trịnh Cao H và bà Hồ Thị T; Gia đình có 04 người con, bị cáo là con đầu; Bị cáo có 03 con, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt từ ngày 25/02/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam H - Công an thành phố Đ; có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phan Văn D; sinh năm 1938; nơi cư trú: K đường H, quận H, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt tại phiên tòa.

* Tham gia tại điểm cầu trung tâm (Hội trường xét xử Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng) gồm có: Hội đồng xét xử, kiểm sát viên, Thư ký phiên tòa.

* Tham gia tại điểm cầu thành phần (Trại tạm giam Công an thành phố Đ) gồm có:

  • - Bị cáo Võ Văn B, Trịnh Thúy V, Huỳnh Ngọc Đ
  • - Các cán bộ, chiến sĩ của Trại tạm giam H - Công an thành phố Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 21/02/2024, Võ Văn B đi vào thành phố H, tỉnh Quảng Nam gặp một nam thanh niên (chưa xác định được nhân thân lai lịch) mua 2.000.000 đồng ma túy đá. Số ma túy mua được, B trích ra một phần để sử dụng, số còn lại B cất giấu trong phòng ngủ nhà B tại số I đường V, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Đến khoảng 01 giờ ngày 25/02/2024, do cần tiền tiêu xài và trả nợ nên B nảy sinh ý định bán số ma túy này. B sử dụng tài khoản mạng xã hội zalo “Bảo Văn” của B, liên lạc với tài khoản mạng xã hội zalo “Trịnh Thúy V” của Trịnh Thúy V mời V mua ma túy, V đồng ý mua 1.100.000 đồng ma túy và hẹn giao nhận tại trước nhà của B. Để tránh bị phát hiện, B lấy gói nilon kích thước (4x1)cm có chứa ma túy bỏ vào vỏ bao thuốc lá hiệu White Horse rồi để dưới nền đất, trước cổng nhà của B tại số nhà I đường V để chờ V đến lấy.

Do trước đây B có nợ V 1.000.000 đồng nên V sử dụng tài khoản ngân hàng O, số tài khoản 0764.971576 chuyển thêm 100.000 đồng đến tài khoản ngân hàng M1, số tài khoản 0878.758243 của B. Sau khi chuyển tiền cho B xong, vì không có xe nên V gọi nhờ Huỳnh Ngọc Đ chở V đi lấy ma túy. Khoảng 02 giờ cùng ngày, khi Đ điều khiển xe mô tô hiệu Dream, BKS: 43C1-258.38 chở V đến khu vực giao nhau giữa đường V và đường M (phường H, quận C) thì V nói Đ dừng xe tại đây đứng chờ. V đi bộ đến trước số nhà I Võ Quảng nhặt gói thuốc lá có chứa ma túy, giấu vào túi áo khoác rồi quay ra lại chỗ Đ đang đợi thì bị cơ quan chức năng phát hiện, bắt quả tang.

* Tài liệu, đồ vật tạm giữ:

  • - 01 gói nilon kích thước (1x4)cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng rắn được niêm phong trong bì thư, ký hiệu A;
  • - 01 vỏ thuốc lá hiệu White Horse;
  • - 01 xe mô tô hiệu Honda Dream, BKS: 43C1-258.38;
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6, gắn sim 0934.835975 (của Đ);
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 plus, gắn sim 0764.971576 (của V);
  • - 01 điện thoại di động bị cháy hỏng, không rõ hiệu (của B);
  • - 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 vỏ chai bằng nhựa, 02 bật lửa, 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút.

* Kết luận giám định:

Tại bản kết luận giám định số 173/KL-KTHS ngày 01 tháng 03 năm 2024 của Phòng K1 Công an thành phố Đ, xác định: Tinh thể rắn màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu A: 0,39 gam.

Tại Bản cáo trạng số 54/CT-VKSCL ngày 04/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng truy tố Võ Văn B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố Trịnh Thúy VHuỳnh Ngọc Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về trách nhiệm hình sự:

  • + Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Võ Văn B từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
  • + Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trịnh Thúy V từ 15 đến 18 tháng tù.
  • + Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc Đ từ 18 đến 24 tháng tù.

- Về xử lý vật chứng:

  • + Đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6, gắn sim 0934.835975, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 plus, gắn sim 0764.971576, 01 xác điện thoại di động bị cháy hỏng, không rõ hiệu.
  • + Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ chất ma túy, túi nilon hoàn trả cùng kết luận giám định số 173 ngày 01 tháng 03 năm 2024 của Phòng K1 Công an thành phố Đ, 01 vỏ thuốc lá hiệu White Horse, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 vỏ chai bằng nhựa, 02 bật lửa, 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút.
  • + Đề nghị truy thu số tiền thu lợi bất chính 1.100.000 đồng của bị cáo Võ Văn B để sung công quỹ Nhà nước.

- Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

* Các bị cáo nói lời nói sau cùng:

  • - Bị cáo Võ Văn B: Trong thời gian bị tạm giam, bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn hối hận, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm trở về gia đình.
  • - Bị cáo Trịnh Thúy V: Trong thời gian bị tạm giam, bị cáo rất ăn năn hối hận, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm trở về gia đình lo cho các con.
  • - Bị cáo Huỳnh Ngọc Đ: Trong thời gian bị tạm giam, bị cáo rất ăn năn hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm trở về gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Về xác định tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã truy tố; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được. Có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 02 giờ 55 phút ngày 25/02/2024, tại khu vực giao nhau đường V và Mẹ T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, Trịnh Thúy VHuỳnh Ngọc Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,39 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng. Số ma túy này là do Võ Văn B đã bán cho Trịnh Thúy V trước đó tại cùng địa chỉ trên. Do đó, Hội đồng xét xử xác định, bị cáo Võ Văn B đã có hành vi mua ma túy và bán lại ma túy cho bị cáo Trịnh Thúy V nên đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Trịnh Thúy VHuỳnh Ngọc Đ đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự

[3] Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy:

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo đã xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo B đã có hành vi liên hệ với người bán ma túy để mua ma túy, số ma túy mua được B trích ra một phần để sử dụng, số còn lại B bán cho bị cáo V với giá 1.100.000 đồng. Bị cáo Trịnh Thúy V đã có hành vi liên hệ với B mua ma túy, cất giấu trong người, mục đích là để sử dụng. Bị cáo Huỳnh Ngọc Đ biết rõ bị cáo V mua ma túy về để sử dụng và khi nghe V đề nghị chở V đi lấy ma túy thì Đ đồng ý và điều khiển xe chở V đi đến trước nhà B để lấy ma túy. Tại bản kết luận giám định số 173/KL-KTHS ngày 01 tháng 03 năm 2024 của Phòng K1 Công an thành phố Đ, xác định: Tinh thể rắn màu trắng thu giữ trên người của Trịnh Thúy V là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,39 gam. Do vậy, Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo B và bị cáo Đ có tiền án nhưng chưa được xóa án tích mà phạm tội mới nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “ tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự được Hội đồng xét xử áp dụng khi quyết định hình phạt.

[6] Bị cáo V là người trực tiếp liên hệ với bị cáo B để mua ma túy, số tiền mua ma túy là của V. Bị cáo Đ có vai trò là đồng phạm giúp sức cho bị cáo V. Tuy nhiên, bị cáo V là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu còn bị cáo Đ có tiền án, có nhân thân xấu, nên cần xử phạt bị cáo Đ mức hình phạt cao hơn bị cáo V là phù hợp.

[7] Cần tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội trong một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[8] Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • - Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Dream, màu nâu, BKS: 43C1-258.38, qua điều tra xác định là tài sản của ông Phan Văn D ( là bố chồng cũ của V) cho V mượn để sử dụng, V giao xe cho Đ để đi lại, ông D không biết việc V và Đ sử dụng xe làm phương tiện để đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận C trả lại xe cho ông D là có căn cứ.
  • - Đối với toàn bộ chất ma túy, túi nilon hoàn trả cùng kết luận giám định số 173 ngày 01 tháng 03 năm 2024 của Phòng K1 Công an thành phố Đ, 01 vỏ thuốc lá hiệu White Horse, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 vỏ chai bằng nhựa, 02 bật lửa, 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút là công cụ phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6, gắn sim 0934.835975, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 plus, gắn sim 0764.971576, 01 điện thoại di động bị cháy hỏng, không rõ hiệu là phương tiện phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
  • - Truy thu số tiền thu lợi bất chính 1.100.000 đồng đối với bị cáo Võ Văn B để sung công quỹ Nhà nước.

[9] Tại phiên tòa, quan điểm của Kiểm sát viên về tội danh, điều luậ áp dụng cũng như mức hình phạt phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố:
    • - Bị cáo Võ Văn B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
    • - Bị cáo Trịnh Thúy V và bị cáo Huỳnh Ngọc Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Xử phạt:
    1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Võ Văn B 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt, ngày 25/02/2024.
    2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trịnh Thúy V 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt, ngày 25/02/2024.
    3. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt, ngày 25/02/2024.
  3. Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    1. Tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01(một) điện thoại di động hiệu Iphone 6, gắn sim 0934.835975; 01(một) điện thoại di động hiệu Iphone 8 plus, gắn sim 0764.971576; 01 điện thoại di động bị cháy hỏng, không rõ hiệu.
    2. Tuyên tịch thu tiêu hủy toàn bộ chất ma túy, túi nilon hoàn trả cùng kết luận giám định số 173 ngày 01 tháng 03 năm 2024 của Phòng K1 Công an thành phố Đ; 01 vỏ gói thuốc lá hiệu White Horse; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 vỏ chai bằng nhựa, 02 bật lửa, 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút.
    3. Bị cáo Võ Văn B nộp lại số tiền thu lợi bất chính 1.100.000 đồng (một triệu một trăm nghìn đồng) để sung công quỹ Nhà nước.

    (Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng, theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 06/06/2024).

  4. Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tp Đà Nẵng;
  • - VKSND tp Đà Nẵng;
  • - Công an quận Cẩm Lệ;
  • - VKSND quận Cẩm Lệ;
  • - CCTHADS quận Cẩm Lệ;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Lệ Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2024/HS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 67/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Văn B cùng đồng phạm phạm tội Mua bán trái phép ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger