Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CAO LÃNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2024/HS-ST

Ngày 22-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Phong

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Quang Thanh
  2. Ông Nguyễn Hồng Thơ

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ Hải là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Dương Lâm Thiên T - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 63/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 357/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Phước L, sinh năm 1991, tại Đồng Tháp; Nơi thường trú và nơi ở hiện nay: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 09/12; Giới tính: Nam; Con ông: Nguyễn Văn T1 (đã chết) và bà Vũ Thị L1, sinh năm: 1966; Chưa có vợ, con;

- Tiền án: Ngày 21/01/2022, bị Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tuyên phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 07/2022/HS-ST, đã chấp hành xong án phạt tù ngày 10/02/2023.

- Tiền sự: Không

- Nhân thân: Ngày 27/5/2024, bị Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp tuyên phạt 01 năm 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 28/2024/HS-ST, đang chấp hành án tại Trại giam C của Cục C1 Bộ C2.

Tạm giữ, tạm giam: Không. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Nguyễn Thanh M, sinh năm 1981 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Nơi cư trú: Tổ A, ấp Đ, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lê Thanh S, sinh năm 1982 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Nơi cư trú: Tổ 9, khóm M, phường C, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Người làm chứng:

  1. Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1988 (vắng mặt).
  2. Nguyễn Thị L2, sinh năm 1983 (vắng mặt).

Cùng nơi cư trú: Ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Phước L là người nghiện ma tuý và có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xoá án tích nhưng tiếp tục thực hiện tội phạm trộm cắp tài sản. Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 03/3/2024 sau khi L đến thành phố C mua thuốc uống cai nghiện ma tuý, L thuê xe ôm đến nhà bạn tại Phường C, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp để chơi. Khi L đi ngang qua cơ sở nước đá Ú thuộc tổ A, khóm M, phường C, thành phố C thì thấy xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Dream, màu sơn nâu, biển kiểm soát 66P1-867.81 của anh Nguyễn Thành M1 đang dựng trước cửa cơ sở nước đá Ú có gắn sẵn chìa khoá trong ổ khoá xe, L nảy sinh ý định chiếm đoạt để đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân nên kêu người chạy xe ôm dừng lại. Sau khi trả cho người chạy xe ôm 20.000 đồng L đi bộ đến trước cửa cơ sở nước đá Ú quan sát xung quanh không thấy ai trông coi nên lén lút ngồi lên xe mô tô mở khoá, nổ máy xe chạy đi về hướng cầu C đến nhà của anh ruột là Nguyễn Văn Đ, ngụ tại Ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

Lúc này, vợ anh Đ là chị Nguyễn Thị L2 có hỏi L xe ở đâu mà có thì L nói không nhớ, nghi ngờ là xe L lấy trộm của người khác nên chị L2 điện thoại cho anh Đ nói vụ việc, anh Đ trình báo Công an xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, sau khi xác định xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Dream, màu sơn nâu, biển kiểm soát 66P1-867.81 là xe của người khác bị mất trộm tại Phường C, thành phố C nên anh Đ đến giao nộp xe cho Công an Phường 3 xử lý .

Tại Kết luận định giá tài sản số 310/KL-HĐĐGTS ngày 11/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố C, kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Dream, màu sơn nâu, biển kiểm soát 66P1-867.81, có giá: 2.200.000 đồng. Hiện Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho chủ sở hữu là anh Lê Thanh S, do trước đó anh S cho anh Nguyễn Thanh M mượn làm phương tiện đến cơ sở nước đá Ú để làm việc. Anh S đã nhận lại xe, hiện nay anh S và anh M không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Trong quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Phước L thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung đã nêu trên; phù hợp với biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm; vật chứng thu giữ; kết luận định giá tài sản; biên bản, sơ đồ, bản ảnh dựng lại hiện trường; lời khai người bị hại; lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số 63/CT-VKS-TPCL ngày 08/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh đã truy tố bị cáo Nguyễn Phước L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh thay đổi truy tố bị cáo Nguyễn Phước L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Áp dụng Điều 173 của Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Phước L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Phước L với mức án từ 06 tháng tù đến 01 năm tù.

- Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng như cáo trạng đã nêu.

* Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Phước L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Bản Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo không tranh luận gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát thành phố C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Phước L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, cũng như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh là đúng với hành vi của bị cáo, lời khai của bị cáo tại phiên toà, phù hợp với biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm; vật chứng thu giữ; kết luận định giá tài sản; biên bản, sơ đồ, bản ảnh dựng lại hiện trường; lời khai người bị hại; lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở xác định:

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 03/3/2024 trước cửa cơ sở nước đá Ú thuộc Tổ A, khóm M, phường C, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp, bị cáo Nguyễn Phước L đã lợi dụng sơ hở, thiếu cảnh giác của anh Nguyễn Thanh M đã lén lút lấy trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Dream, màu sơn nâu, biển kiểm soát 66P1-867.81, có giá trị là 2.200.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất với tội danh mà cáo trạng đã truy tố; bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận lời luận tội của Kiểm sát viên là đúng người, đúng tội, đúng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.

Khi thực hiện tội phạm, bị cáo là người đã thành niên, có đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình và có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu bị xử phạt tù về tội trộm cắp tài sản và 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản. Bị cáo nhận thức rất rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Đáng lẽ ra khi bị xét xử và trả giá bằng những bản án trước đây, bị cáo phải biết cải sửa bản thân, sống tốt hơn cho gia đình và xã hội. Nhưng ngược lại, xuất phát từ việc xem thường pháp luật, muốn thỏa mãn nhu cầu cá nhân mà không phải bỏ công sức lao động như bao người khác, bị cáo lại tiếp tục có hành vi trộm cắp tài sản, chứng tỏ hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý và tội phạm đã hoàn thành.

Trong phần tranh luận tại phiên tòa, lời luận tội của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa cho rằng bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” như Cáo trạng đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ.

Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Phước L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chẳng những xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, đặc biệt thời gian gần đây, tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu nói chung và tội phạm trộm cắp tài sản nói riêng ngày càng tăng, gây thiệt hại về tài sản, gây hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân. Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử tại phiên tòa hôm nay là cần thiết và cũng cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ sức răn đe, nhằm để bị cáo có điều kiện học tập, cải tạo trở thành công dân tốt và sống có ích cho xã hội. Đồng thời góp phần phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

[4] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích mà bị cáo lại thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Nên áp dụng tình tiết tăng nặng tái phạm đối với bị cáo theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản; Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét.

[7] Về vật chứng: Đã xử lý xong.

[8] Các vấn đề khác:

Đối với anh Nguyễn Văn Đ và chị Nguyễn Thị L2 khi biết xe do Nguyễn Phước L lấy trộm đã tự giác đến Công an Phường 3 giao nộp nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.

[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát thành phố Cao Lãnh về tội danh, khung hình phạt, mức hình phạt và các vấn đề khác là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phước L, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Phước L, 09 (chín) tháng tù.

Căn cứ Điều 56 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 28/2024/HS-ST, ngày 27/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp cùng với bản án này. Buộc bị cáo Nguyễn Phước L chấp hành hình phạt chung của hai bản án 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/3/2024.

2. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

3. Xử lý vật chứng: Đã xử lý xong

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Phước L phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - VKSND TPCL;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - CQĐT Công an TPCL;
  • - CQTHAHS Công an TPCL;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Văn Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2024/HS-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 67/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger