Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

Bản án số: 67/2024/HNGĐ-ST

Ngày 22 tháng 7 năm 2024

V/v: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hường và ông Nguyễn Thế Hiệp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Minh Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 92/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2024/QĐXX-ST ngày 09 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Đỗ Như H, sinh năm 1981; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn P, xã H, huyện V, tỉnh Thái Bình; địa chỉ hiện nay: Tầng A, số F, ngõ D, khu V, thành phố Đ, Đài Loan (Trung Quốc). Có đơn xin vắng mặt.
  2. Bị đơn: Chị Phạm Thị N, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện V, tỉnh Thái Bình. Có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Nguyên đơn anh Đỗ Như H trình bày:
    1. Về quan hệ hôn nhân: Anh H, chị N tự nguyện tìm hiểu và kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện V, tỉnh Thái Bình vào ngày 27/11/2014. Sau khi kết hôn, vì để phát triển kinh tế gia đình nên anh H đã xuất cảnh sang Đài Loan để lao động. Từ sau khi anh H sang Đài Loan, vợ chồng anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách không hòa hợp nên anh H, chị N thường không tìm được tiếng nói chung. Mâu thuẫn kéo dài làm cho tình cảm giữa hai vợ chồng ngày càng lạnh nhạt, xa cách. Anh H và chị N đã nhiều lần cho nhau cơ hội, cố gắng hàn gắn mối quan hệ nhưng chính những mâu thuẫn và bất đồng về suy nghĩ, lối sống đã khiến hai vợ chồng không thể hòa hợp. Hai bên gia đình anh H, chị N cũng đã nhiều lần hòa giải để hai vợ chồng hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả. Đến hiện tại, bản thân anh H và chị N cũng không còn tình cảm với nhau, không có phương án nào để đoàn tụ vợ chồng nên anh H yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh ly hôn chị N.
    2. Về con chung: Anh H và chị N có 01 con chung là Đỗ Thanh H1, sinh ngày 27/01/2015. Anh H đề nghị Tòa án giao cháu H1 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng vì hiện anh H đang lao động ở nước ngoài. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con, anh H và chị N tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
    3. Về tài sản chung: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. Bị đơn chị Phạm Thị N trình bày:
    1. Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh H tự nguyện tìm hiểu, kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện V, tỉnh Thái Bình ngày 27/11/2014. Sau khi kết hôn, thời gian đầu anh H, chị N chung sống cùng bố mẹ anh H tại thôn P, xã H, huyện V, tỉnh Thái Bình. Năm 2016, vì để phát triển kinh tế gia đình nên anh H đã đi lao động tại Đài Loan. Sau khi anh H sang Đài Loan, giữa hai vợ chồng chị N và anh H bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát từ việc hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung nên không còn hòa hợp được với nhau trong cuộc sống. Chị N và anh H đã nhiều lần cho nhau cơ hội để cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả. Chị N va anh H đã cắt đứt liên lạc từ lâu, hai vợ chồng không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Nay anh H đề nghị ly hôn, chị N đồng ý.
    2. Về con chung: Chị N và anh H có 01 con chung là Đỗ Thanh H1, sinh ngày 27/01/2015. Chị N đề nghị Tòa án giao cháu H1 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng vì hiện anh H đang lao động ở nước ngoài. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con, vợ chồng chị N và anh H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
    3. Về tài sản chung: Vợ chồng chị N, anh H không có tài sản chung, không có nợ chung, chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  3. Cháu Đỗ Thanh H1 là con chung của anh Đỗ Văn H2 và chị Phạm Thị N trình bày: Hiện tại cháu đang sống cùng mẹ cháu, nếu bố mẹ ly hôn, cháu H1 đề nghị được sống cùng với mẹ.
  4. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến:

    Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn đều tuân thủ theo quy định của pháp luật. Về nội dung: Đề nghị xử cho anh Đỗ Văn H2 được ly hôn chị Phạm Thị N. Về con chung: Đề nghị giao cháu Đỗ Thanh H1, sinh ngày 27/01/2015 cho chị Phạm Thị N trực tiếp nuôi dưỡng. Do các bên không yêu cầu và tự thoả thuận với nhau nên không giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: không đặt ra giải quyết. Anh H2 phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, cũng như thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Đỗ Như H và chị Phạm Thị N đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, có đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt anh H, chị N là đúng quy định pháp luật.

[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn là anh Đỗ Văn H2 hiện đang ở Đài Loan nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình theo khoản 3 Điều 35 và Điều 37 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Đỗ Văn H2 và chị Phạm Thị N tự nguyện tìm hiểu và kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện V, tỉnh Thái Bình ngày 27/11/2014 nên xác định là hôn nhân hợp pháp. Anh H2 và chị N đều xác định vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn nhiều năm do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hoà hợp, không còn giành tình cảm cho nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài, trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay anh H2 xin ly hôn chị N và chị N đồng ý nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh H2 ly hôn chị N là có căn cứ, đúng quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3.2] Về con chung: Anh H2 và chị N có 01 con chung là Đỗ Thanh H1, sinh ngày 27/01/2015. Anh H2, chị N đều thống nhất đề nghị Tòa án giao cháu H1 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Cháu H1 cũng có nguyện vọng được sống cùng mẹ. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần giao con chung là cháu Đỗ Thanh H1 cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về vấn đề cấp dưỡng, anh H2, chị N tự thoả thuận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không đặt ra giải quyết.

[4] Về tài sản chung: Anh H2, chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không đặt ra giải quyết.

[5] Về án phí: Anh H2 phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Đỗ Như H được ly hôn anh chị Phạm Thị N.
  2. Về con chung: Xử giao con chung Đỗ Thanh H1, sinh ngày 27/01/2015 cho chị Phạm Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, không đặt ra giải quyết. Anh H, chị N có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung khi cần thiết.
  3. Về tài sản: Không đặt ra giải quyết.
  4. Về án phí: Anh Đỗ Như H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền anh H đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0000217 ngày 24 tháng 6 năm 2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình sang thi hành án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ. Anh Đỗ Như H có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Đương sự;
  • - UBND xã Hiệp Hòa;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đỗ Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2024/HNGĐ-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 67/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Như Hậu - Phạm Thị Nhài ly hôn, nuôi con chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger