Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 67/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 22-5-2024

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hoàn;

2. Bà Nguyễn Thị Thu Vân.

Thư ký phiên toà: Ông Phạm Anh Ly - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Bương.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 86/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2021, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Tuyết V; sinh năm: 1989; thường trú: Số D, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  • - Bị đơn: Anh Lê Trung H; sinh năm: 1981; thường trú: Số G, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 26/02/2024 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Phạm Thị Tuyết V trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị V và anh Lê Trung H tự nguyện tìm hiểu nhau, được hai bên gia đình, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn D (nay là phường D), huyện D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 244/2010 quyển số 01 ngày 09/10/2010. Sau khi kết hôn vợ chồng sống với nhau rất hạnh phúc, sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm dẫn tới vợ chồng không nói chuyện với nhau, không chia sẻ với nhau trong cuộc sống. Mặt dù gia đình hai bên đã cố gắng hàn gắn nhưng không giải quyết được. Nay chị V xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với anh H.

- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 03 con chung là: Lê Phương T, sinh ngày 02/12/2011; Lê Nhật M, sinh ngày 21/5/2013; Lê Khánh M1, sinh ngày 03/01/2020. Khi ly hôn chị V yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục 03 con chung, không yêu cầu anh H thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nghĩa vụ chung và nợ chung: Chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình tố tụng, bị đơn anh Lê Trung H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý và các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện do nguyên đơn cung cấp. Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn anh H để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 26/4/2024; tham gia phiên tòa vào các ngày 15/5/2024 và 22/5/2024 nhưng anh H vắng mặt không có lý do. Đồng thời, anh H cũng không có ý kiến, yêu cầu gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị V.

- Ngày 17/4/2024 Tòa án xác minh tình trạng hôn nhân, quá trình chung sống và vấn đề chăm sóc nuôi dạy con chung giữa chị V với anh H tại Hội Liên hiệp phụ nữ phường D và được cung cấp như sau: Trước khi khởi kiện ly hôn tại Tòa án, chị V không có yêu cầu địa phương tổ chức hòa giải cơ sở. Quá trình chung sống thì vấn đề mâu thuẫn, nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn và vấn đề chăm sóc nuôi dạy con chung thì Hội Liên hiệp phụ nữ phường Dĩ An không rõ vì không có thông tin cung cấp từ đại diện khu phố cũng như người dân phản ánh. Đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án theo quy định.

- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa đã tuân thủ đúng pháp luật về tố tụng dân sự, nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Nguyên đơn chị Phạm Thị Tuyết V có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải; bị đơn anh Lê Trung H đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt hai lần liên tiếp không có lý do chính đáng. Căn cứ các điều 207, 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án không tiến hành hòa giải được và Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Tuyết V và anh Lê Trung H là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 244/2010 quyển số 01 ngày do Ủy ban nhân dân thị trấn D (nay là phường D), huyện D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương cấp vào ngày 09/10/2010 nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Chị V xác định quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm dẫn tới vợ chồng không chuyện với nhau, không chia sẻ với nhau trong cuộc sống. Mặt dù gia đình hai bên đã cố gắng hàn gắn nhưng không giải quyết được. Nay chị V xác định không còn tình cảm với anh H nên yêu cầu được ly hôn.

Xét thấy, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc; để đạt được mục đích đó vợ chồng cần phải thương yêu, tin tưởng, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Chị V xác định quan hệ hôn nhân của vợ chồng có nhiều mâu thuẫn và hiện cả hai đều không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Anh H đã được Tòa án triệu tập làm việc và tham gia hòa giải trong vụ án nhưng anh H đều vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án cũng như không thể hiện ý muốn hòa giải đoàn tụ. Như vậy, có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa chị V và anh H đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chị V yêu cầu được ly hôn với anh H là có căn cứ chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Vợ chồng chị V, anh H có 03 con chung là: Lê Phương T, sinh ngày 02/12/2011; Lê Nhật M, sinh ngày 21/5/2013; Lê Khánh M1, sinh ngày 03/01/2020. Việc giao con chung cho ai nuôi dưỡng cần phải xem xét về mọi mặt và quyền lợi của con chưa thành niên. Xét thấy, quá trình tố tụng tại Tòa án, anh H vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện ý chí mong muốn được nuôi con chung. Để bảo đảm quyền lợi của phụ nữ và con khi ly hôn, cần giao con cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, đồng thời cũng phù hợp với nguyện vọng của các cháu T và cháu M. Vì vậy, có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của chị V về việc được trực tiếp nuôi dưỡng 3 con chung.

[4] Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Chị Phạm Thị Tuyết V tự nguyện không yêu cầu anh Lê trung H1 cấp dưỡng nuôi con chung nên Tòa án ghi nhận.

[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

[6] Từ những phân tích trên có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An về việc giải quyết vụ án.

[7] Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thị Tuyết V phải chịu án phí theo quy định của của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và các Điều 227, 228, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Tuyết V về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn anh Lê Trung H.
    • - Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Tuyết V được ly hôn với anh Lê Trung H (Giấy chứng nhận kết hôn số 244/2010 quyển số 01 ngày do Ủy ban nhân dân thị trấn D (nay là phường D), huyện D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương cấp vào ngày 09/10/2010).
    • - Về con chung: Giao 03 con chung tên Lê Phương T, sinh ngày 02/12/2011; Lê Nhật M, sinh ngày 21/5/2013; Lê Khánh M1, sinh ngày 03/01/2020 cho chị Phạm Thị Tuyết V trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung đủ tuổi thành niên. Ghi nhận sự tự nguyện của chị V không yêu cầu anh Lê Trung H cấp dưỡng nuôi con chung.
    • Sau ly hôn, chị Phạm Thị Tuyết V và anh Lê Trung H phải tạo điều kiện cho nhau trong việc chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng.
    • - Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thị Tuyết V phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004513 ngày 07/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
  3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

- Các đương sự (2);

- VKSND thành phố Dĩ An (1);

- Chi cục THADS thành phố Dĩ An (1);

- TAND tỉnh Bình Dương (1);

- Ủy ban nhân dân xã Phú Châu,

huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình (1);

- Lưu: VT, HSVA (2).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Minh Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2024/HNGĐ-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 67/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Tuyết V-Lê Trung H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger