|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 67/2024/HS-ST Ngày: 22/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Hoàng Lâm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quyết Thắng
Ông Tạ Minh Tiếp
- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Thị Thủy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Lý Thị Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định xét xử số: 66/2024/QĐXXST- HS ngày 08 tháng 5 năm 2024 đối với Bị cáo:
* Bị cáo: Lê Văn M; sinh năm: 1967, tại tỉnh Hưng Yên; HKTT: Phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Mai D, sinh năm 1942 (đã chết) và Con bà: Đỗ Thị T, sinh năm 1945; Bị cáo có vợ tên là: Vũ Thị H, sinh năm 1968 (đã ly hôn); Bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1988 con nhỏ nhất sinh năm 1996; Tiền án: Chưa có. Tiền sự: Chưa có.
Nhân thân: Ngày 25/9/2007, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 07 năm tù giam về tội mua bán trái phép chất ma túy. Chấp hành xong bản án ngày 25/01/2013.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/01/2024 đến ngày 11/01/2024 chuyển tạm giam, hiện bị can đang bị tạm giam tại Trại tạm giam của Công an tỉnh H. Theo Lệnh trích xuất có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1988 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn B, xã P, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 21 giờ 45 phút ngày 08/01/2024, tại đường C thuộc phố V, thị trấn V, huyện V; lực lượng CSĐT Công an huyện V phối hợp với Công an thị trấn V phát hiện, bắt quả tang Lê Văn M, sinh năm 1967, có hộ khẩu thường trú (HKTT) tại số nhà S, phố V, thị trấn V đang có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy trên người. Quan kiểm tra lực lượng công an đã tiến hành thu giữ tại lòng bàn tại trái của M: 01 túi nilon màu trắng miệng có khóa bóp viền màu đỏ, kích thước (9cm x 15,5cm) dụng 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất màu trắng dạng cục và bột được niêm phong trong phong bì ghi kí hiệu M1. Ngoài ra còn thu giữ của M 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh đã qua sử dụng. Lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và bàn giao Lê Văn M cùng toàn bộ hồ sơ tài liệu, vật chứng và tài sản đã thu giữ đến Cơ quan cảnh sát điều tra huyện V để giải quyết theo thẩm quyền.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V ban hành Quyết định trưng cầu giám định ma túy đối với vật chứng đã thu giữ trong niêm phong ký hiệu M1 và đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của M tại phố V, thị trấn V, tỉnh Hưng Yên; đồng thời đưa M đến Trung tâm y tế huyện V để xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể. Kết quả xét nghiệm xác định: Đ1 dương tính với ma túy loại (MOP). Tại bản kết luận giám định 174/KL-KTHS(MT) ngày 12/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi ký hiệu M1, có tổng khối lượng là 1,681 gam, là ma túy loại Heroine (H). H1 lại mẫu vật sau giám định gồm 01 phong bì niêm phong bên trong có 1,645g ma túy, loại Heroine (Heroin); 01 túi nilon màu trắng, 01 mảnh giấy gói ma túy, 01 vỏ phong bị niêm phong mẫu vật gửi giám định.
Quá trình điều tra vụ án, M khai nhận bản thân nghiện chất ma túy loại Heroin và không có công việc ổn định. Khoảng 16 giờ ngày 08/01/2024, M thuê một người đàn ông lái xe ôm (không rõ lai lịch) điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chở M đi từ khu vực vòng xuyến ở thị trấn V, huyện V, lên huyện G, thành phố Hà Nội để mua ma túy về sử dụng. Khi đi đến gần gầm cầu P thuộc huyện G thì M bảo người đàn ông lái xe ôm đứng chờ; còn M đi bộ trên đường quốc lộ 5A tìm người bán ma túy. M đi đến đoạn gầm cầu P, thì nhìn thấy một người phụ nữ (không rõ lai lịch) ở phía bên phải đường theo hướng đi từ Hưng Yên lên Hà Nội có biểu hiện bán ma tuý. Do vậy, M đi đến hỏi “có hàng không" (nghĩa là có ma túy loại Heroin bán không) thì người phụ nữ nói "có, mua bao nhiêu"; M nói “một triệu hai”, (tức là 1.200.000₫). Người phụ nữ đồng ý và đưa cho M 01 túi nilon màu trắng miệng có khóa bóp viền màu đỏ, bên trong đựng 01 gói giấy màu trắng chứa ma túy. M trả tiền cho người phụ nữ và cất túi dụng ma túy vào trong túi quần bên phải rồi đi bộ quay lại chỗ người đàn ông lái xe ôm bảo người này chở về nhà. Đến khoảng 21 giờ 40 phút cùng ngày, M cầm túi ma túy trong lòng bàn tay trái và cầm chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh đi tìm nơi vắng người để sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị lực lượng CSĐT Công an huyện V phối hợp với Công an thị trấn V bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng như đã nêu trên. Ngoài ra M còn khai vào tối ngày 07/01/2024, M đã mua 200.000₫ ma túy loại Heroin của 01 người đàn ông (không rõ lai lịch) tại khu đô thị Đ, xã N, huyện V và sử dụng hết tại khu vực cánh đồng thôn Đ, thị trấn V.
Đối với người lái xe ôm và những người đã bán mà túy cho M vào ngày 07 và 08/01/2024 đều không rõ lai lịch, nên Cơ quan CSĐT Công an huyện V không có căn cứ để xác minh, xử lý.
Vật chứng của vụ án bao gồm: 01 phong bì niêm phong bên trong có 1,645g ma túy, loại Heroine; 01 túi nilon màu trắng, 01 mảnh giấy gói ma túy, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO màu xanh.
Tất cả được quản lý tại kho vật chứng Công an huyện V đã chuyển sang Chi cục thi hành án dân sự huyện V.
Tại bản cáo trạng số: 58/CT- VKSVG ngày 09 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang truy tố bị cáo Lê Văn M về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu tại bản Cáo trạng và tỏ thái độ ăn năn hối cải. Gia đình bị cáo tham dự phiên tòa xuất trình thay cho bị cáo giấy chứng nhận mẹ đẻ bị cáo là bà Đỗ Thị T được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang giữ nguyên quan điểm đã truy tố như nội dung bản Cáo trạng và bổ sung tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS do mẹ đẻ bị cáo có thành tích xuất sắc trong chiến đấu. Đề nghị HĐXX:
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, Khoản 1 Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên bố bị cáo Lê Văn M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt từ 02 năm tù đến 02 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/01/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về biện pháp tư pháp và xử ký vật chứng: Áp dụng Điểm a khoản 1 điều 46; Điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS; Khoản 1, điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106/BLTTHS xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có 1,645g ma túy loại Heroine; 01 túi nilon màu trắng; 01 mảnh giấy gói ma túy; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định; Trả lại cho bị cáo M 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO màu xanh đã qua sử dụng là tài sản hợp pháp của bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội.
Về án phí: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136/BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000₫ án phí HSST.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
- Cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân và kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện. Hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đều đảm bảo đúng pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay và lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là hoàn toàn phù hợp khách quan với biên bản bắt nguời phạm tội quả tang, bản kết luận giám định, phù hợp với số ma túy thu giữ của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Hồi 21 giờ 45 phút ngày 08/01/2024, tại đường C thuộc phố V, thị trấn V, huyện V; lực lượng CSĐT Công an huyện V phối hợp với Công an thị trấn V phát hiện, bắt quả tang Lê Văn M đang có hành vi cất giấu trái phép trên người 01 gói ma túy loại Heroine có khối lượng 1,681 gam. Mục đích M cất giấu số ma túy trên là để sử dụng cho bản thân.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, vi phạm pháp luật. Hành vi nêu trên của bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Mặt khác, ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Bị cáo là người có nhân thân xấu, năm 2007 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 07 năm tù giam về tội mua bán trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích). Chính vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn theo quy định pháp luật đối với bị cáo để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Đối với người phụ nữ bán trái phép chất ma túy cho M do không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để xác minh, xử lý.
[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ thái độ ăn năn hối cải. Mẹ bị cáo là Đỗ Thị T được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo là đối tượng thường xuyên sử dụng ma túy, chưa có tiền án, tiền sự.
[4] Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập, không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[ 5] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm 01 phong bì niêm phong bên trong có 1,645g ma túy, loại Heroine (Heroin); 01 túi nilon màu trắng, 01 mảnh giấy gói ma túy, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định là chất Nhà nước cấm lưu hành và đồ vật không còn giá trị sử dụng nên sẽ bị tịch thu cho tiêu hủy.
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo M.
[6] Về án phí: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136/BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ:
- Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 38; Điểm a, khoản 1 điều 46; Điểm a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự.
- Khoản 1, điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Khoản 1 Điều 293; Điều 299; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
2. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn M phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
3. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Văn M 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/01/2024.
4. Về biện pháp tư pháp và xử lý chứng: Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có 1,645g ma túy, loại Heroine; 01 túi nilon màu trắng, 01 mảnh giấy gói ma túy, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định là chất Nhà nước cấm lưu hành và đồ vật không còn giá trị sử dụng nên sẽ tịch thu cho tiêu hủy.
Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO màu xanh đã qua sử dụng.
(Tình trạng, số lượng vật chứng theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Công an huyện V và Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Giang ngày 20/5/2024).
5. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hoàng Lâm |
Bản án số 67/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƯNG YÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 67/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt bị cáo 02 năm tù
