Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2023/HS-ST

Ngày 21/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phong

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Khương

Ông Trần Minh Nhựt

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Thị Như Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Danh Nguyễn Thuý Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 74/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2023, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Khánh D, sinh ngày 26/02/2003 tại Kiên Giang; Nơi cư trú: Tổ 15, khu phố M, thị trấn ML, huyện C, tỉnh K. Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 7/12; Quốc Tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khrme; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Tấn T, sinh năm 1974 và bà Thị N, sinh năm 1977; Anh, chị, em ruột gồm có 02 người, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2011;Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt giữ, tạm giam từ ngày 19/8/2023. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Trường V, sinh năm 2000. Địa chỉ: Khu phố M, thị trấn ML, huyện C, tỉnh K (Vắng mặt không có lý do).
  2. Anh Danh K, sinh năm 2004. Địa chỉ: Ấp X, xã B, huyện C, tỉnh K. (Vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Khánh D, sinh ngày 26/02/2003, cư trú: Khu phố M, thị trấn ML, huyện C, tỉnh K, là đối tượng nghiện ma túy. Do được các đối tượng nghiện khác giới thiệu nên D biết được số điện thoại của người tên L (không rõ họ, tên và địa chỉ cụ thể) có bán ma túy, nên vào khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 18/8/2023, D điện thoại cho L để hỏi mua ma túy với số tiền 300.000 đồng thì được L đồng ý và kêu D đến khu vực gần vòng xoay thuộc ấp An Phước, xã Bình An để lấy ma túy. Sau khi liên lạc xong, D kêu V (bạn ngoài xã hội) điều khiển xe chở D đến địa điểm trên nhưng D không nói cho V biết là đi lấy ma túy, khi đi gần đến chỗ hẹn (cách vòng xoay khoảng 100m), D thấy có một người thanh niên đang đứng ở đó nên D kêu V dừng xe lại và đậu xe đợi D, còn D đi bộ đến vị trí người thanh niên đang đứng và đưa cho người này 300.000 đồng, tại đây D nhìn thấy gói thuốc lá nhãn hiệu Hero để cặp mé lộ, do được người tên L chỉ trước nên D biết trong gói thuốc có chứa ma túy, D mở gói thuốc lấy ma túy cất vào trong người và vứt bỏ gói thuốc. Sau khi có được ma túy, D quay trở lại xe và kêu V chở về nhà, còn người thanh niên bỏ đi đâu không rõ.

Sau khi có được ma túy, D kêu V điều khiển xe chở D về nhà, khi đi đến đoạn vòng xoay thuộc ấp An Phước, xã Bình An, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang thì bị lực lượng Công an tiến hành kiểm tra bắt quả tang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ trên người của Trần Khánh D gồm: 01 bịch nylon trong suốt được hàn kín, kích thước 2,9cm x 1,7cm, bên trong chứa nhiều hạt tinh thể dạng rắn, màu trắng không đồng nhất nghi là chất ma túy; 01 cây nỏ thủy tinh không xác định hình dạng, phía trên có gắn nắp nhựa màu xanh và ống hút nhựa màu vàng; 01 cây kéo bằng kim loại có cán nhựa màu trắng; 03 hột quẹt gas trong suốt.

Sau khi bắt quả tang D về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, lực lượng chức năng đã đưa D về trụ sở Công an huyện Châu Thành để lấy lời khai. Tại đây, D đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại Bản kết luận giám định số 892/KL-KTHS ngày 22 tháng 8 năm 2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận giám định như sau:

Nhiều hạt tinh thể dạng rắn, màu trắng, không đồng nhất chứa bên trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,3254 gam.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

- Đồ vật, tài liệu thu giữ, tạm giữ, hướng xử lý vật chứng gồm:

  • + 01 (một) phong bì màu trắng có dòng chữ CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ, Niêm phong mẫu vật, vụ số 892/2023, ngày 23 tháng 8 năm 2023, người chứng kiến Lý Tiến T, giám định viên Thái Thị Thanh T, có đóng dấu mộc đỏ niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang, bên trong phong bì bao gồm: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng là 0,2897 gam được dựng trong một bịch nylon và bao gói dựng mẫu.
  • + 01 (một) phong bì màu trắng có ghi dòng chữ Công an tỉnh Kiên Giang, Công an huyện Châu Thành. Tang vật vụ Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 19/8/2023 tại ấp An Phước, xã Bình An, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang. Phần giáp lai có các chữ ký của Danh Thị Mỹ A, Nguyễn Trường V, Trần Khánh D, Danh Phít N, Danh K và hình dấu mộc tròn màu đỏ của cơ quan CSĐT Công an huyện Châu Thảnh, tỉnh Kiên Giang. Bên trong phong bì có 01 (một) cây nỏ thủy tinh không xác định hình dạng, phía trên nỏ có gắn ống hút bằng nhựa màu vàng; 01 (một) cây kéo bằng kim loại có tay cầm bằng nhựa màu trắng; 03 (ba) cái hột quẹt gas trong suốt.

Đối với đối tượng tên L là người bán ma túy cho bị can D, ngoài lời khai của bị can thì không có chứng cứ khác chứng minh và chưa xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang không thể mời đối tượng làm việc để xác minh, làm rõ vấn đề trên. Khi nào làm việc được với đối tượng này sẽ tiến hành xử lý theo quy định.

Tại bản cáo trạng số: 77/CT-VKS-CT ngày 21/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Trần Khánh D về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Khánh D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự

Xử phạt bị cáo Trần Khánh D từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 (một) phong bì màu trắng có dòng chữ CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ, Niêm phong mẫu vật, vụ số 892/2023, ngày 23 tháng 8 năm 2023, người chứng kiến Lý Tiến T, giám định viên Thái Thị Thanh T, có đóng dấu mộc đỏ niệm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang, bên trong phong bì bao gồm: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng là 0,2897 gam được dựng trong một bịch nylon và bao gói dựng mẫu.
  • + 01 (một) phong bì màu trắng có ghi dòng chữ Công an tỉnh Kiên Giang, Công an huyện Châu Thành. Tang vật vụ Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 19/8/2023 tại ấp An Phước, xã Bình An, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang. Phần giáp lai có các chữ ký của Danh Thị Mỹ A, Nguyễn Trường V, Trần Khánh D, Danh Phít N, Danh K và hình dấu mộc tròn màu đỏ của cơ quan CSĐT Công an huyện Châu Thảnh, tỉnh Kiên Giang. Bên trong phong bì có 01 (một) cây nỏ thủy tinh không xác định hình dạng, phía trên nỏ có gắn ống hút bằng nhựa màu vàng; 01 (một) cây kéo bằng kim loại có tay cầm bằng nhựa màu trắng; 03 (ba) cái hột quẹt gas trong suốt.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành.

Bị cáo được nói lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiền hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Do có nhu cầu sử dụng ma túy, vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 18/8/2023, Trần Khánh D điện thoại cho một người đàn ông (không rõ họ, tên, địa chỉ) để hỏi mua ma túy với số tiền 300.000 đồng thì được người này đồng ý và hẹn D đến chỗ để giao ma túy. Sau khi mua được ma túy, D quay về nhà, khi đi đến đoạn vòng xoay thuộc ấp An Phước, xã Bình An, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang thì bị lực lượng công an tiến hành kiểm tra bắt quả tang D có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu giám định là 0,3254 gam. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo Trần Khánh D là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, ý thức được điều đó nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Hành vi của bị cáo Trần Khánh D có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[3] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo là người dân tộc thiểu số, việc am hiểu pháp luật có phần hạn chế nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo. Hội đồng xét xử, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, đồng thời cần có một mức hình phạt phù hợp nhằm tiếp tục răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

[5] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, khung hình phạt cũng như việc áp dụng các điều luật để xử lý vụ án là có căn cứ pháp luật nên HĐXX ghi nhận.

[6] Về đánh giá vật chứng, xử lý vật chứng:

  • + 01 (một) phong bì màu trắng có dòng chữ CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ, Niêm phong mẫu vật, vụ số 892/2023, ngày 23 tháng 8 năm 2023, người chứng kiến Lý Tiến T, giám định viên Thái Thị Thanh T, có đóng dấu mộc đỏ niệm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang, bên trong phong bì bao gồm: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng là 0,2897 gam được dựng trong một bịch nylon và bao gói dựng mẫu.
  • + 01 (một) phong bì màu trắng có ghi dòng chữ Công an tỉnh Kiên Giang, Công an huyện Châu Thành. Tang vật vụ Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 19/8/2023 tại ấp An Phước, xã Bình An, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang. Phần giáp lai có các chữ ký của Danh Thị Mỹ A, Nguyễn Trường V, Trần Khánh D, Danh Phít N, Danh K và hình dấu mộc tròn màu đỏ của cơ quan CSĐT Công an huyện Châu Thảnh, tỉnh Kiên Giang. Bên trong phong bì có 01 (một) cây nỏ thủy tinh không xác định hình dạng, phía trên nỏ có gắn ống hút bằng nhựa màu vàng; 01 (một) cây kéo bằng kim loại có tay cầm bằng nhựa màu trắng; 03 (ba) cái hột quẹt gas trong suốt.

Các vật chứng nêu trên không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

[7] Về án phí: Xử buộc bị cáo phải có nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Khánh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Khánh D 01 (một) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 19/8/2023.

2/ Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử: Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm:

  • + 01 (một) phong bì màu trắng có dòng chữ CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ, Niêm phong mẫu vật, vụ số 892/2023, ngày 23 tháng 8 năm 2023, người chứng kiến Lý Tiến T, giám định viên Thái Thị Thanh T, có đóng dấu mộc đỏ niệm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang, bên trong phong bì bao gồm: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng là 0,2897 gam được dựng trong một bịch nylon và bao gói dựng mẫu.
  • + 01 (một) phong bì màu trắng có ghi dòng chữ Công an tỉnh Kiên Giang, Công an huyện Châu Thành. Tang vật vụ Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 19/8/2023 tại ấp An Phước, xã Bình An, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang. Phần giáp lai có các chữ ký của Danh Thị Mỹ A, Nguyễn Trường V, Trần Khánh D, Danh Phít N, Danh K và hình dấu mộc tròn màu đỏ của cơ quan CSĐT Công an huyện Châu Thảnh, tỉnh Kiên Giang. Bên trong phong bì có 01 (một) cây nỏ thủy tinh không xác định hình dạng, phía trên nỏ có gắn ống hút bằng nhựa màu vàng; 01 (một) cây kéo bằng kim loại có tay cầm bằng nhựa màu trắng; 03 (ba) cái hột quẹt gas trong suốt.

Theo quyết định chuyển giao vật chứng số: 59/QĐ-VKSCT ngày 21/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành.

3/ Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án

Xử buộc bị cáo Trần Khánh D phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4/ Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - Sở tư pháp tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND H. Châu Thành;
  • - Công An H. Châu Thành;
  • - Chi cục THADS H. Châu Thành;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2023/HS-ST ngày 21/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 67/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger