TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 67/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 21/8/2024
V/v: "Ly hôn, tranh chấp nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Phong
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Thanh Thuý
Ông Lê Anh Giàu
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Diễm Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 180/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2024 về việc: "Ly hôn, tranh chấp nuôi con", theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2024/ĐXXST-HNGĐ ngày 02/8/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Ô Ngọc T, sinh năm: 1993 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Số E khu phố C, Phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
- Bị đơn: Ông Huỳnh Quốc L, sinh năm: 1990 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Số D ấp A, xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng các văn bản, tài liệu chứng cứ cung cấp cho Toà án nguyên đơn bà T trình bày:
Bà T và ông Huỳnh Quốc L kết hôn năm 2022, hôn nhân do cả hai tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre vào ngày 15/7/2022. Sau kết hôn cuộc sống vợ chồng thời gian đầu có hạnh phúc, sau đó mâu thuẩn phát sinh nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã nhau. Nay do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông L để mỗi người có cuộc sống riêng.
Về con chung: có 01 con chung là cháu Huỳnh Quốc H, sinh ngày 21/9/2022. Khi ly hôn bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu H, bà không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà T khai không có.
Tại lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Huỳnh Quốc L trình bày:
Ông và bà Ô Ngọc T có tìm hiểu và tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre vào ngày 15/7/2022. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc nhưng gần đây ông và bà T có mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống với nhau dẫn đến việc bà T muốn ly hôn. Ông L cho rằng ông và bà T vẫn còn tình cảm vợ chồng tốt không đến mức phải ly hôn nên ông không đồng ý ly hôn.
Về con chung: có 01 con chung là cháu Huỳnh Quốc H, sinh ngày 21/9/2022. Ông có nguyện vọng nuôi cháu H nhưng hiện nay do đang chấp hành án nên ông đồng ý để bà T nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: ông L khai không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Ngày 19/4/2024 bà Ô Ngọc T có đơn xin ly hôn với ông Huỳnh Quốc L. Bà T, ông L đang cư trú tại thành phố B nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre theo qui định tại các Điều 28, 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Trong quá trình giải quyết vụ án, vào ngày 29/7/2024 bà T có đơn xin xét xử vắng mặt, ngày 22/7/2024 ông L có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà T, ông L là phù hợp.
[3] Về quan hệ hôn nhân: bà T và ông L trên cơ sở cả hai tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre vào ngày 15/7/2022. Xét thấy, hôn nhân của bà T và ông L đã tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật hôn nhân gia đình nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn, bà T và ông L có thời gian sống hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã nhau. Tại bản tự khai ngày 22/7/2024 ông Huỳnh Quốc L thừa nhận ông và bà T có mâu thuẫn việc gia đình với nhau dẫn đến bà T muốn ly hôn, ông L không đồng ý ly hôn nhưng ông L không đưa ra được giải pháp nào hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy, mục đích của hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T là phù hợp.
[4] Về con chung: có 01 con chung là cháu Huỳnh Quốc H, sinh ngày 21/9/2022. Sau khi ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu H, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con. Ông L cũng đồng ý giao cháu H cho bà T nuôi, nghĩ nên chấp nhận.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: bà T và ông L trình bày là không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) đồng, bà T phải nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 147, 235 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 51, 53, 56; 57; 81; 82; 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Qui định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Ô Ngọc T, cụ thể tuyên:
Về quan hệ hôn nhân:
Bà Ô Ngọc T được ly hôn với ông Huỳnh Quốc L.
Về con chung:
có 01 con chung là cháu Huỳnh Quốc H, sinh ngày 21/9/2022. Bà Ô Ngọc T được trực tiếp nuôi con chung.
Ghi nhận việc bà T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Không bên nào được ngăn cản quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con khi cần thiết một trong các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung:
bà Ô Ngọc T và ông Huỳnh Quốc L trình bày là không có nên Toà án không xem xét giải quyết.
Về án phí:
Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm bà Ô Ngọc T phải nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004428 ngày 08/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bến Tre. Bà T đã nộp đủ án phí.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Duy Phong |
Bản án số 67/2024/HNGĐ-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 67/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yệu cầu xin ly hôn của T
