|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 67/2024/HS-ST Ngày: 21-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bắc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Thế Hải
2. Bà Nguyễn Thị Sen
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 48/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Bùi Trung K - Sinh ngày 29/10/1998, tại phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: Tổ dân phố V, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện nay: Tổ dân phố V, phường N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Hữu Đ, sinh năm 1977; con bà: Bùi Thị N, sinh năm 1979; có vợ là: Lê Thị N1, sinh năm 1999; có 01 con sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06/02/2024 đến nay. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị H – Sinh năm 1982; Nơi cư trú: Tiểu khu E, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mối quan hệ quen biết với nhau, nên ngày 10/12/2021, Bùi Trung K cho chị Nguyễn Thị H vay số tiền 70.000.000 đồng, K và chị H thỏa thuận mức lãi suất là 5.000 đồng/triệu/ngày, trả lãi hàng tháng vào ngày 10 dương lịch bằng hình thức trả tiền trực tiếp hoặc chuyển khoản từ tài khoản 8888288282 của chị H đến tài khoản 0200111979999 của K đều mở tại Ngân hàng TMCP Q. Hai bên thống nhất tháng tính bằng 30 ngày, số lãi phải trả là 10.500.000 đồng/tháng, tương ứng với mức lãi suất 180%/năm, cao gấp 009 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự.
Đến ngày 26/01/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N tiến hành triệu tập làm việc đối với Bùi Trung K, biết hành vi vi phạm của mình đã bị phát hiện nên Bùi Trung K đã đầu thú, thành khẩn khai báo về hành vi cho vay lãi nặng để thu lợi bất chính của bản thân.
Tính đến ngày hành vi phạm tội của K bị phát hiện (ngày 26/01/2024), tổng thời gian chị H vay tiền của K là 25 tháng 16 ngày, tổng số tiền lãi chị H phải trả cho K là 268.100.000 đồng, trong đó số tiền lãi tối đa K được thu theo quy định là 29.788.500 đồng, số tiền K sẽ thu lợi bất chính là 238.311.500 đồng. Tuy nhiên, chị H mới trả cho K được 21 tháng tiền lãi với tổng số tiền là 220.500.000 đồng, trong đó số tiền lãi tối đa K được thu theo quy định là 24.500.000 đồng, số tiền K thu lợi bất chính là 196.000.000 đồng. Đến nay, chị H trả số nợ gốc 70.000.000 đồng cho K và K đã hoàn trả số tiền lãi thu vượt quy định cho chị H là 196.000.000 đồng.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu thập bản sao kê tài khoản của Bùi Trung K tại Ngân hàng TMCP Q (MB) trong thời gian từ ngày 10/12/2021 đến ngày 26/01/2024 có nội dung thể hiện việc chuyển tiền từ số tài khoản 8888288282 của chị Nguyễn Thị H đến tài khoản số [...] của Bùi Trung K.
Tại cơ quan điều tra, Bùi Trung K đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi cho vay lãi nặng của bản thân như đã nêu trên. Lời khai của bị can phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án.
Tại Bản cáo trạng số 74/CT-VKSNS ngày 16/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Bùi Trung K về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 201; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 47 và điều 65 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 và khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị xử phạt: Bùi Trung K từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là từ 18 đến 24 tháng; Phạt bổ sung Bùi Trung K 30.000.000đ. Không xem xét phần bồi thường; Truy thu của bị cáo K 70.000.000đ tiền gốc và 24.500.000đ tiền lãi để nộp ngân sách Nhà nước. Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2] Phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội:
Tại phiên tòa Bùi Trung K đã khai nhận: Xuất phát từ động cơ vụ lợi nên trong khoảng thời gian từ ngày 10/12/2021 đến ngày 26/01/2024, Bùi Trung K đã cho chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1982, ở tiểu khu E, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa vay 70.000.000 đồng với lãi suất 5.000 đồng/triệu/ngày, thống nhất thời hạn trả lãi theo tháng, mỗi tháng tính bằng 30 ngày, tương ứng với mức lãi suất 180%/năm, cao gấp 09 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Tổng số tiền lãi chị H phải trả cho K là 268.100.000 đồng, trong đó số tiền lãi tối đa K được thu theo quy định là 29.788.500 đồng, số tiền K sẽ thu lợi bất chính là 238.311.500 đồng. Tính đến ngày bị phát hiện (ngày 26/01/2024) chị H mới trả cho K 21 tháng tiền lãi với tổng số tiền là 220.500.000 đồng, trong đó số tiền lãi tối đa K được thu theo quy định là 24.500.000 đồng, số tiền K thu lợi bất chính là 196.000.000 đồng. Đến nay, chị H đã trả hết số nợ gốc 70.000.000 đồng cho K và K cũng đã hoàn trả lại số tiền lãi thu vượt quá quy định là 196.000.000 đồng cho chị H.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với kết luận của đại diện Viện kiểm sát. Vì vậy có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi và hậu quả thấy rằng: Hiện nay trên địa bàn thị xã N, tình trạng cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự diễn ra khá phức tạp và có chiều hướng gia tăng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế về hoạt động cho vay trong giao dịch dân sự được pháp luật hình sự bảo vệ, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người vay tài sản. Mặc dù nhận thức rõ hành vi của mình là sai trái, nhưng vì ham lợi nên bị cáo đã cho người khác vay để hưởng số tiền lãi vượt quá lãi suất quy định. Vì vậy cần phải tuyên cho bị cáo một hình phạt thật nghiêm mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét về nhân thân và trách nhiệm hình sự: Tiền án, tiền sự: không. Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan số tiền thu lợi bất chính và ra đầu thú, nên bị cáo được áp dụng điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự làm tình tiết giảm nhẹ, lượng giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được tính khoan hồng của pháp luật. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do đó, xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng, mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự cũng đủ điều kiện cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
[5] Xét về phần hình phạt bổ sung: Cần phải áp dụng khoản 3 Điều 201 của BLHS, để phạt bị bị cáo 01 khoản tiền nhất định để nộp và ngân sách Nhà nước.
[6] Xét về phần vật chứng và các biện pháp tư pháp:
- Đối với số tiền 70.000.000đ tiền gốc bị cáo dùng làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội và 24.500.000đ tiền lãi suất 20%/năm là tiền do phạm tội mà có, nên cần phải căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS; để truy thu của bị cáo K số tiền tổng cộng là 94.500.000 đ, để nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với số tiền 196.000.000 đồng, tiền lãi vượt quá 20%/năm. Bị cáo đã tự nguyện trả lại cho chị H, chị H không yêu cầu gì thêm. Do đó, Hội đồng xét xử miễn xét.
[8] Xét về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Khoản 2, khoản 3 Điều 201; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 47 và điều 65 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 và khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: Bùi Trung K phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
- Xử phạt: Bùi Trung K 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 21/5/2024. Giao bị cáo Bùi Trung K cho chính quyền Ủy ban nhân dân phường N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo được hưởng án treo mà thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về hình phạt bổ sung: Phạt Bùi Trung K 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
- Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Truy thu của Bùi Trung K số tiền là 94.500.000đ (Chín tư triệu, năm trăm ngàn đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Án phí: Bị cáo Bùi Trung K phải chịu 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Bắc |
Bản án số 67/2024/HS-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 67/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Trung K cho chị H vay 70.000.000đ với lãi suất 5000đ/triệu/ngày, tương ứng với mức lãi suất 180 %/năm. Số tiền K thu lời bất chính là 190.000.000đ
