Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số: 67/2024/HS-ST

Ngày: 21-5-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Kim Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Thành Trại.
  2. Ông Tạ Công Minh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Phục là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Ngô Thanh Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2024/TLST - HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2024/QĐXXST- HS ngày 22 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh ngày 09 tháng 6 năm 2005 tại tỉnh Tiền Giang.

Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 02/5/2022, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.

Nơi cư trú: ấp Đ, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp làm thuê; trình độ học vấn 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị X; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự không; Bị bắt, tạm giữ ngày 27/12/2023, tạm giam ngày 30/12/2023.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Anh Nguyễn Chí N, sinh năm 1995 (Vắng mặt).
    Nơi cư trú: ấp M, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
  2. Anh Nguyễn Đăng K, sinh năm 2002 (Vắng mặt).
    Nơi cư trú: ấp M, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ ngày 25/12/2023, Nguyễn Văn T sử dụng điện thoại liên lạc với đối tượng tên H1 (không rõ họ, địa chỉ) để hỏi mua ma túy số tiền 100.000 đồng thì H1 đồng ý rồi hẹn giao ma túy tại cầu S, thuộc xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Sau đó, T điều khiển xe mô tô hai bánh hiệu Yamaha Sirius màu đen, xám biển số 63B2-555.62 từ thị xã C, tỉnh Tiền Giang đến cầu S thì được một đối tượng nam (chưa rõ họ tên, địa chỉ) giao 01 gói nylon chứa ma túy cho T. Khi có được ma túy, T về nhà lấy ra một ít để sử dụng, số còn lại T cất giấu trong bóp màu đen để trong túi quần mang theo bên người. Đến khoảng 08 giờ ngày 27/12/2023, T tiếp tục liên lạc với H1 để mua ma túy với số tiền 300.000 đồng và cũng được H1 hẹn giao ma túy tại khu vực cầu S, đến nơi T được 01 đối tượng nam giao 01 gói nylon chứa ma túy, khi nhận ma túy T điều khiển xe 63B2-555.62 về thị xã C, tỉnh Tiền Giang trên đường T hướng S - V. Khi đến đoạn thuộc ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Tiền Giang thì bị Tổ tuần tra – Đội Cảnh sát giao thông, trật tự Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang chặn dừng kiểm tra phương tiện, trong lúc kiểm tra lực lượng Cảnh sát giao thông phát hiện Tình có hành vi tàng trữ 02 gói nylon chứa ma túy trong túi quần jean phía sau bên phải và trong bóp màu đen nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang xử lý.

Tại Kết luận giám định số 230/KL-KTHS ngày 28/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Gói 1: Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,7449 gam, loại Methamphetamine. Gói 2: Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0661 gam, loại Methamphetamine. Tổng khối lượng ma túy thu giữ gửi giám định là 0,8110 gam loại Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số 61/CT-VKSCT ngày 04 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về “Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Về trách nhiệm hình sự: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết: bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 32, Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù; Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu huỷ số lượng ma tuý còn lại sau giám định; tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động mặt sau có ghi chữ S, ghi nhận bị cáo không yêu cầu nhận lại 01 (một) cái bóp da màu đen, ghi nhận cơ quan điều tra đã trả lại xe cho anh Nguyễn Chí N.

Tại phiên tòa, bị cáo T khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Bị cáo T nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo để bị cáo được sớm về với gia đình, làm người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với hành vi phạm tội theo cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Như vậy đã đủ cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Văn T là đối tượng nghiện ma túy, có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, cụ thể: khoảng 09 giờ 30 phút ngày 27/12/2023, sau khi mua ma tuý, bị cáo Nguyễn Văn T cất giấu 0,8110 gam ma tuý, loại Methamphetamine trong túi quần jean phía sau bên phải và trong bóp màu đen với mục đích để sử dụng, chạy xe mô tô về. Trên đoạn đường tại ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Tiền Giang thì bị Tổ tuần tra – Đội Cảnh sát giao thông, trật tự Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang chặn dừng kiểm tra phương tiện phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

[3] Theo thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XVII “Các tội phạm về ma túy” của BLHS năm 1999 tại phần II tiểu mục 3.1 hướng dẫn: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là cất giữ, cất giấu bất hợp pháp chất ma túy ở bất cứ nơi nào (như trong nhà, ngoài vườn, chôn dưới đất, để trong vali, cho vào thùng xăng xe, cất giấu trong quần áo, tư trang mặc trên người hoặc theo người...) mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy. Thời gian tàng trữ dài hay ngắn không ảnh hưởng đến việc xác định tội này.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[5] Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, mà còn gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội. Ma túy có tác dụng gây nghiện đối với người sử dụng, rất khó từ bỏ được, người nghiện loại ma túy này mất dần khả năng lao động, học tập và làm việc, gây tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe và tinh thần, nếu không có ma túy để sử dụng những người nghiện ma túy sẽ có những hành vi nguy hiểm cho xã hội như trộm cắp, cướp giật, thậm chí giết người cướp tài sản để lấy tiền mua ma túy sử dụng, thỏa mãn cơn nghiện. Ma tuý còn là nguyên nhân dẫn đến sự tha hoá trong lối sống, làm suy đồi đạo đức của thế hệ thanh thiếu niên, ma túy còn là tác nhân làm lây lan căn bệnh HIV/AIDS, làm gia tăng tình hình tội phạm và các tệ nạn xã hội, xâm hại đến trật tự công cộng, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do vậy cần phải có chế tài nghiêm khắc để xử phạt các tội phạm về ma tuý.

[6] Khi thực hiện tội phạm, bị cáo T có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là phạm tội nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm để thoả mãn cơn nghiện. Xét tính chất nguy hiểm của tội phạm do bị cáo T thực hiện, Hội đồng xét xử xem xét cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo từ bỏ con đường phạm tội và răn đe phòng ngừa chung.

[7] Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năng hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[8] Về vật chứng của vụ án: tịch thu tiêu huỷ số lượng ma túy còn lại sau giám định, gồm: Gói 1: Một túi được niêm phong ký hiệu vụ số 230/1 ghi ngày 28/12/2023, có các chữ ký in họ tên: Nguyễn Thị Kiều L (Giám định viên), Trần Thanh D (Trợ lý giám định viên), chữ ký ghi họ tên: Lê Phương T1 (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG. Bên trong có 01 gói nylon trong suốt được dán kín chứa 0,7254 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine và 01 vỏ gói nylon trong suốt, đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định. Gói 2: Một túi được niêm phong ký hiệu vụ số 230/2 ghi ngày 28/12/2023, có các chữ ký in họ tên: Nguyễn Thị Kiều L (Giám định viên), Trần Thanh D (Trợ lý giám định viên), chữ ký ghi họ tên: Lê Phương T1 (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG. Bên trong có 01 gói nylon trong suốt được dán kín chứa 0,0465 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine và 01 vỏ gói nylon trong suốt, đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định; Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) cái bóp da màu đen; Trả lại bị cáo 01 (một) điện thoại di động mặt sau có ghi chữ Samsung do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

[9] Đối với 01 (một) xe mô tô hai bánh hiệu Yamaha Sirius biển số 63B2-555.62. Qua xác minh, xe do Nguyễn Chí N đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe, N giao xe cho em ruột là Nguyễn Đăng K quản lý, sử dụng. Việc bị cáo T mượn xe do K quản lý để đi mua ma túy thì K không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang trao trả cho Nguyễn Chí N là đúng quy định của pháp luật.

[10] Theo lời khai của bị cáo T, bị cáo mua ma túy của đối tượng tên H1 (không rõ họ, địa chỉ) và được đối tượng nam (không rõ họ tên, địa chỉ) giao tại khu vực cầu S, thuộc xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Tuy nhiên, theo kết quả điều tra, xác minh không xác định được nhân thân của đối tượng H1 và đối tượng giao ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang không có cơ sở làm việc.

[11] Xét đề nghị của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa có một phần phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[12] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (Một) năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, tạm giữ là ngày 27/12/2023.
  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
    Tịch thu tiêu huỷ số lượng ma túy còn lại sau giám định, gồm:
    - Một túi niêm phong ký hiệu vụ số 230/1 ghi ngày 28/12/2023, có chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Thị Kiều L (Giám định viên – Bên giao), Trần Thanh D (Trợ lý giám định), chữ ký ghi họ tên: Lê Phương T1 (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ: PHÒNG K1 - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG. Bên trong có 01 gói nylon trong suốt được dán kín chứa 0,7254 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine và 01 vỏ gói nylon trong suốt, đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định.
    - Một túi được niêm phong ký hiệu vụ số 230/2 ghi ngày 28/12/2023, có chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Thị Kiều L (Giám định viên – Bên giao), Trần Thanh D (Trợ lý giám định), chữ ký ghi họ tên: Lê Phương T1 (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ: PHÒNG K1 - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG. Bên trong có 01 gói nylon trong suốt được dán kín chứa 0,0465 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine và 01 vỏ gói nylon trong suốt, đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định;
    Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) cái bóp bằng da, màu đen.
    Trả lại bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) điện thoại di động mặt sau có ghi chữ S. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22 tháng 4 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang)
  3. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
    Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
    Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND H. Châu Thành;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - CQ.CSĐT CA H. Châu Thành;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự Công an H. Châu Thành;
  • - Chi cục THADS H. Châu Thành;
  • - Bị cáo;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Kim Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2024/HS-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 67/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger