1
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4-THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 67/2025/HSST
Ngày 09 tháng 12 năm 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4-THANH HÓA
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Lê Thị Ngọc Tú |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Lê Doãn Giới |
| Bà Lường Thị Huyền |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Binh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4- Thanh Hóa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4-Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Đỗ Diệu L - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4- Thanh Hóa (cơ sở 2) xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Lê Văn B, sinh năm 1984 tại xã H, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn T, xã H, tỉnh Thanh Hóa; Số CCCD: 03808435990; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, Đ: không; Con ông Lê Văn H và bà Đoàn Thị N; Vợ là Nguyễn Thị D và 03 con; Tiền án, tiền sự; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
Bị hại: Anh Trần Duy K, sinh năm 1995. Vắng mặt
Địa chỉ: Thôn G, xã H, tỉnh Thanh Hóa.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Chị Lê Thị T, sinh năm 1987. Xin vắng mặt
Địa chỉ: Thôn N, xã H, tỉnh Thanh Hóa.
Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1984. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn T, xã H, tỉnh Thanh Hóa.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lợi dụng sơ hở của anh Trần Duy K là chủ các căn hộ A5-02 và C5-06 trong khu du lịch Flamigo Hải T1, Lê Văn B nên đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản.
Khoảng 20 giờ ngày 30/8/2025, Lê Văn B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade màu đen-bạc, biển số 36B5-676.77 vào khu D ở thôn G, xã H, tỉnh Thanh Hóa. Khi đi đến khu vực căn hộ A, quan sát không thấy người trông coi quản lý nên B đã cắt nguồn điện, lén lút đột nhập, lên tầng 2 trộm cắp 01 chiếc ti vi nhãn hiệu Xiaomi SN:48126/207100019478 loại 55 inch (ti vi đã qua sử dụng), đem ra cất giấu tại khu vực ngoài bờ biển. Sau đó Lê Văn B tiếp tục đi đến căn hộ C, cắt nguồn điện và đột nhập vào tầng 1 trộm cắp 01 chiếc ti vi hiệu TCL, model 55P737, 2210WN001899A00097 (ti vi đã qua sử dụng). Sau khi trộm cắp được B đem ti vi ra chỗ bờ biển, rồi sau đó mang 02 chiếc tivi về cất giấu ở nhà.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 358/KL-HĐĐG ngày 09/9/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự - UBND tỉnh T kết luận: 01 tivi hiệu Xiaomi SN 48126/207100019478 loại 55 inch (đã qua sử dụng) trị giá 3.500.000đ (ba triệu năm trăm nghìn đồng chẵn); 01 tivi hiệu TCL, SN 55P737, 2210WN001899A00097 (đã qua sử dụng) trị giá 3.500.000đ (Ba triệu năm trăm nghìn đồng chẵn). Tổng giá trị tài sản bị xâm hại là 7.000.000đ (Bảy triệu đồng).
Cơ quan CSĐT đã thu thập camera tại hiện trường thời điểm Lê Văn B thực hiện hành vi phạm tội. Tại Kết luận giám định số 3616/KL-KTHS ngày 23/9/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 02 tệp video của 01 đĩa DVD gửi giám định; Trích xuất 04 ảnh từ tệp video gửi giám định.
Quá trình điều tra và phiên tòa, bị cáo Lê Văn B khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Bị hại trình bày lời khai phù hợp với nội dung nêu trên, đồng thời thừa nhận đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt. Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị hại có đơn yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 4.000.000đ (Bốn triệu đồng) là chi phí bị hại khắc phục lại đường dây điện và lắp đặt lại Ti vi.
Bản cáo trạng số 21/CT-VKSKV4 ngày 14/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4-Thanh Hóa truy tố bị cáo Lê Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo.
3
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65 của Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025).
Xử phạt bị cáo Lê Văn B từ 09 tháng đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu giữ và trả lại cho bị hại là anh K, anh K yêu cầu bị cáo bồi thường 4.000.000đ (Bốn triệu đồng), bị cáo đã bồi thường đầy đủ. Bị hại không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô BKS 36B5-676.77 mà Bằng sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội thuộc sở hữu của chị Lê Thị T, chị T không biết B dùng xe của mình làm phương tiện phạm tội, cơ quan CSĐT đã trả lại xe cho chị T. Vì vậy, đề nghị không xem xét.
Đối với 02 Ti vi là T2 hiệu Xiaomi và tivi hiệu TCL đã được Cơ quan CSĐT trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Trần Duy K. Vì vậy đề nghị không xem xét.
Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016, buộc bị cáo Lê Văn B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo B trình bày: Xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4-Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
4
Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở khẳng định:
Khoảng 20h00' ngày 30/8/2025, Lê Văn B đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc trông coi tài sản, đã có hành vi đến khu du lịch Flamigo Hải T1, xã H, tỉnh Thanh Hóa, vào căn hộ A5-02 lén lút trộm cắp Tivi hiệu X, sau đó đến căn hộ C5-06 lén lút trộm cắp tivi hiệu TCL (đều đã qua sử dụng). Ti vi Xiaomi được định giá có giá trị 3.500.000đ, tivi TCL được định giá có giá trị 3.500.000đ. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị là 7.000.000đ (Bảy triệu đồng).
Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lê Văn B đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm của tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025).
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi: Hành vi của bị cáo Lê Văn B đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự trị an, là nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và răn đe chung.
Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Lê Văn B phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội hai lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bố bị cáo được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất và B ghi công do đã có thành tích trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở tính chất nguy hiểm của hành vi, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo nhận thấy bị cáo Lê Văn B chưa từng có hành vi vi phạm pháp luật, phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS, đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định của pháp luật nên xem xét cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương cũng đủ răn đe, cải tạo, giáo dục, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự và vật chứng:
5
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được trả lại cho chủ sở hữu là anh K, bị cáo đã bồi thường cho anh K số tiền 4.000.000đ (Bốn triệu đồng) theo yêu cầu của anh. Bị hại không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô BKS 36B5-676.77 mà Bằng sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội thuộc sở hữu của chị Lê Thị T, chị T không biết B dùng xe của mình làm phương tiện phạm tội, cơ quan CSĐT đã trả lại xe cho chị T. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 02 Ti vi là T2 hiệu Xiaomi và tivi hiệu TCL đã được Cơ quan CSĐT trả lại cho chủ sở hữu. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Do bị cáo Lê Văn B bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025).
Xử phạt bị cáo Lê Văn B 10 (Mười) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 20 (Hai mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Văn B cho Ủy ban nhân dân xã H, tỉnh Thanh Hóa quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình; Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Văn B phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án liên quan đến quyền lợi và
6
nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Ngọc Tú |
7
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
|
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Ngọc Tú |
8
9
10
11
12
Bản án số 67/2025/HSST ngày 09/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4-THANH HÓA về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 67/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4-THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bằng trộm cắp TS có tổng giá trị 7.000.000 đồng.
