|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - TP. HÀ NỘI Bản án số: 67/2025/HNGĐ - ST Ngày 04 tháng 12 năm 2025. V/v: “Ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9- HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lã Hùng Cường.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Mạnh; Ông Đinh Quang Hòa.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Phương, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Hạnh; chức vụ : Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 12 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 269/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2025 về việc tranh chấp: “Hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2025/QĐXX- ST ngày 18 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm: 1992;
Địa chỉ: Thôn H, xã Q, thành phố Hà Nội.
Bị đơn: Anh Dương Văn N, sinh năm: 1985;
Địa chỉ: Thôn Y, xã V, thành phố Hà Nội.
( Chị H, anh N đều có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn ly hôn và biên bản lấy lời khai của chị Nguyễn Thị Thu H trình bày như sau: Tôi và anh Dương Văn N kết hôn tự nguyện, có tìm hiểu nhau và đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện B, Hà Nội (Nay là xã V, thành phố Hà Nội) ngày 08/01/2024. Sau khi cưới nhau tôi và anh N chung sống, ăn ở với nhau ngay, tình cảm vợ chồng lúc đầu hạnh phúc về sau mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống thường xuyên cãi nhau dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 9/2025 cho đến nay. Tôi xác định tình cảm vợ chồng đến nay không còn. Do vậy tôi đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 9, thành phố Hà Nội giải quyết cho tôi được ly hôn anh N để giải phóng cho bản thân tôi.
* Về Con chung: Tôi và anh N có 01 con chung là cháu Dương Diệp A, sinh ngày 19/01/2021. Hiện nay cháu Diệp A đang ở với tôi. Ly hôn tôi đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con chung. Thu nhập hàng tháng của tôi khoảng 20 triệu đồng/tháng.
* Tài sản riêng, tài sản chung, nợ chung: Không có.
Anh Dương Văn N trình bày như sau: Thời gian chung sống và kết hôn như chị H trình bày là đúng. Sau khi kết hôn chúng tôi về ở với nhau ngay và ăn ở tại nhà tôi. Thời gian đầu chung sống với nhau vợ chồng sống hạnh phúc. Vợ chồng sống được 3 tháng thì tôi phải đi chấp hành án 17 tháng tù. Trong quá trình chấp hành án thì chị H và con vẫn đến thăm nuôi, vợ chồng sống rất tình cảm, hạnh phúc. Sau khi chấp hành án xong tôi trở về nhà vào ngày 01/9/2025, khi trở về địa phương thì chị H tỏ thái độ không thoải mái vui vẻ với tôi, bản thân tôi đã cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng chị H không đồng ý về đoàn tụ. Chị H bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở từ ngày 06/9/2025 cho đến nay, khi ly thân vợ chồng không quan hệ tình cảm vợ chồng. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn và mong muốn vợ chồng được đoàn tụ để nuôi dạy con chung.
Về Con chung: Anh N xác định có 01 con chung là cháu Dương Diệp A, sinh ngày 19/01/2021. Hiện nay cháu Diệp A đang ở với chị H, nếu giải quyết ly hôn tôi đề nghị được nuôi dưỡng cháu Diệp A và không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung. Thu nhập hàng tháng của tôi khoảng 40 triệu đồng/tháng;
* Tài sản riêng, tài sản chung, nợ chung: Không có.
Tại phiên tòa: Chị Nguyễn Thị Thu H vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn anh N; Về cấp dưỡng nuôi con chung chị H không yêu cầu.
Về tài sản riêng, tài sản chung, công nợ chung: Chị H xác định không có.
Anh Dương Văn N xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn và anh N mong muốn vợ chồng được đoàn tụ để nuôi dạy con cái. Nếu chị H cương quyết xin ly hôn thì anh N cũng hoàn toàn đồng ý. Về con chung: Anh N mong muốn xin được chăm sóc nuôi dưỡng cháu Dương Diệp A đến trưởng thành, không yêu cầu chị H phải trợ cấp nuôi con chung.
Tài sản chung, công nợ chung ; Tài sản riêng: Anh N xác định không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần; Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã công bố các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
- + Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- + Về nội dung vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Xử: Chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thu H đối với anh Dương Văn N; Cho chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn anh Dương Văn N.
Về con chung: Có 01 con chung, cháu Dương Diệp A, sinh ngày: 19/01/2021. Giao cháu Dương Diệp A cho chị Nguyễn Thị Thu H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Diệp A đến trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh N đến khi có đơn yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác. Anh N có quyền thăm nom, chăm sóc con chung sau khi ly hôn không ai được ngăn cản. Về tài sản chung, nợ chung, công sức chung: Đề nghị Tòa án không xem xét. Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Về tố tụng: Anh Dương Văn N có hộ khẩu trường trú tại: Thôn Y, xã V, thành phố Hà Nội. Theo quy định tại khoản 1, Điều 28; Điểm a, Khoản 1, Điều 35, điểm b, khoản 1, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 9, thành phố Hà Nội.
- Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị H và anh N là hôn nhân hợp pháp. Vợ, chồng chung sống với nhau hạnh phúc được khoảng 3 tháng thì anh N phải đi chấp hành án 17 tháng tù. Trong thời gian anh N đi chấp hành án thì chị H và con đến thăm gặp. Trong thời gian anh N chấp hành án thì giữa chị H và anh N xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do vợ chồng thường xuyên cãi nhau dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, anh N thường xuyên đe dọa chị H và ép chị H nếu chị H cố tình ly hôn anh thì anh sẽ dùng mọi biện pháp, có lần anh N nửa đêm trèo tường vào nhà chị H để đòi gặp chị H nói chuyện. Khi anh N chấp hành án xong thì chị H bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở từ ngày 6/09/2025 cho đến nay. Chị H và anh N sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ tình cảm vợ, chồng từ tháng tháng 9 năm 2025 cho đến nay, hai bên không tìm ra được biện pháp để cải thiện tình cảm vợ, chồng. Tại phiên tòa hôm nay anh N xác định tình cảm vợ, chồng giữa anh N và chị H vẫn còn. Chị H cương quyết xin ly hôn thì anh N hoàn toàn đồng ý. Do vậy Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở khẳng định mâu thuẫn vợ, chồng giữa chị H và anh N thật sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó không thể tiếp tục duy trì cuộc sống hôn nhân vợ, chồng giữa chị H và anh N. Do đó chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H đối với anh N, cho chị H được ly hôn anh N là có căn cứ pháp luật.
- Về con chung: Có 01 con chung là cháu Dương Diệp A, sinh ngày 19/01/2021. Hiện nay cháu Diệp A đang ở với chị H. Xét yêu cầu được nuôi con chung của chị H và anh N là hợp pháp. Xong xét chị H và anh N chỉ có 01 con chung, do vậy chỉ có thể giao cho một người trực tiếp nuôi con chung, giao con chung cho ai cần đảm bảo cho con chung điều kiện tốt nhất, để đảm bảo sự phát triển của cháu Diệp A. Tại phiên tòa anh N trình bày hiện anh đang nuôi 03 con riêng và chị H trình bày chị đang nuôi 01 con chung và 01 con riêng của chị nhờ bố mẹ đẻ chị chăm sóc nuôi dưỡng. Xét về thực tế hiện tại cháu Dương Diệp A là nữ giới, đang sinh sống ăn ở cùng với mẹ, cháu hơn 03 tuổi chưa đi học cần sự chăn sóc, giáo dục, gần gũi người mẹ của mình . Nên HĐXX giao cho chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung là cháu Diệp A đến trưởng thành là có cơ sở và căn cứ theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung với anh N nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho N cho đến khi chị H có yêu cầu.
- Về tài riêng, công nợ chung: Chị H và anh N đều thừa nhận không có.
- Về tài sản chung: Chị H khai không có. Anh N trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1, Điều 51; Khoản 1, Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83, của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1, Điều 39; Khoản 4 Điều 147, Điều 235 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội.
Xử: Chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thu H đối với anh Dương Văn N.
- Hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn anh Dương Văn N.
- Về con chung: Có 01 con chung, cháu Dương Diệp A, sinh ngày: 19/01/2021. Giao cháu Dương Diệp A cho chị Nguyễn Thị Thu H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Diệp A đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Dương Văn N đến khi có đơn yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác.
Anh Dương Văn N được quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung của người trực tiếp nuôi con.
- Tài sản riêng, công nợ chung: Không có.
- Tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị H đã nộp theo Biên lai thu tiền số: 0041334 ngày 13/10/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9, Hà Nội.
- Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Thu H, anh Dương Văn N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện Kiểm sát nhân dân có quyền kháng nghị theo quy định.
“ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự“.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lã Hùng Cường |
Bản án số 67/2025/HNGĐ - ST ngày 04/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - TP. HÀ NỘI về ly hôn
- Số bản án: 67/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - TP. HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
