Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN UYÊN

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2025/HS- ST

Ngày: 26/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Lực

- Các hội thẩm nhân dân: Bà Lương Thị Diệp và ông Nguyễn Văn Quang

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thúy Phượng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Uyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 26/6/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 73/2025/TLST - HS, ngày 21/5/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2025/QĐXXST - HS ngày 13/6/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Thào A P; tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 01/01/1999; N sinh: Huyện T, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: Bản T, xã H, huyện T, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Thào A S, đã chết; con bà Vàng Thị P1, sinh năm 1978; Bị cáo có vợ Sùng Thị B, sinh năm 2002 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2019, con nhỏ nhất sinh năm 2022. Gia đình bị cáo có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 13/01/2025, đến ngày 22/01/2025 bị tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại Tân Uyên thuộc trại tạm giam Công an tỉnh L, có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị L - Luật sư ký hợp đồng với Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh L, có mặt tại phiên tòa

* Những người làm chứng:

  • Anh Lò Văn P2, sinh năm 1993. Địa chỉ: Bản N, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu, vắng mặt.
  • Anh Lò Văn D, sinh năm 1995

Địa chỉ: Bản C, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 35 phút, ngày 13/01/2025, Thào A P, sinh năm 1999, trú tại bản Thào, xã H, huyện T, tỉnh Lai Châu đang ở nhà thì có Lò Văn P2, sinh năm 1993, trú tại bản N, xã T, huyện T và Lò Văn D, sinh năm 1995, trú tại bản Chom Chăng, xã T, huyện T đến hỏi mua H, sau đó P2 và D mỗi người đưa cho P số tiền 100.000 đồng, P đồng ý và cầm tiền của P2 và D. Tuy nhiên do lúc này không có H bán nên P bảo P2 và Dương Đ rồi P cầm tổng số tiền 200.000 đồng của P2, D đưa và đi bộ đến nhà Lù Thị S1, sinh năm 1969 trú cùng bản để mua Heroin với mục đích mang về bán lại cho P2 và D. Khi gặp S1, P hỏi và mua được của S1 01 gói Heroin được gói ngoài bằng một mảnh nilon màu hồng với số tiền 200.000 đồng, sau đó Phía cất vào túi quần bên trái đang mặc rồi đi về. Khi đi về đến ngôi nhà hoang gần đó, P đi vào bên trong rồi chia gói Heroin vừa mua được ra thành 02 phần, một phần Phía gói lại bằng mảnh nilon màu hồng ban đầu rồi cất vào túi quần bên trái đang mặc với mục đích mang về bán lại cho P2 và D, phần còn lại Phía đã sử dụng hết bằng hình thức hít, sau đó P tiếp tục đi về. Khi về đến nhà, P đi vào bếp rồi lấy gói Heroin còn lại ra đưa cho P2 và D tự chia nhau, còn P đi ra phía bên ngoài nhà. Sau khi mua được H, P2 và D chia nhau, sau đó cả hai tự ý sử dụng Heroin tại nhà của gia đình P (tại vị trí cạnh tủ quần áo của gia đình P) nhưng không xin phép Phía và gia đình P cũng không ai biết.

Đến hồi 19 giờ cùng ngày, khi P2 và D vừa sử dụng Heroin xong thì bị lực lượng Công an huyện T đang làm nhiệm vụ tiến hành kiểm tra, phát hiện thu giữ của Lò Văn P2 01 bơm bim tiêm đã qua sử dụng và 01 mảnh nilon màu hồng; phát hiện thu giữ của Lò Văn D 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng. Đồng thời Lò Văn P2 và Lò Văn D đều khai nhận số Heroin vừa sử dụng xong do P2 và D mua của Thào A P.

Cùng ngày 13/01/2025, căn cứ lời khai của Lò Văn P2 và Lò Văn D, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Thào A P về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy, đồng thời tiến hành khám xét khẩn cấp đối Thào A Phía, phát hiện thu giữ 01 chiếc bật lửa ga màu xanh. Quá trình giữ người, P khai nhận toàn bộ hành vi bán trái phép chất ma túy cho Lò Văn P2 và Lò Văn D. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Thào A P.

Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra đã triệu tập lấy lời khai đối với Lù Thị S1, đồng thời tiến hành đối chất giữa P và S1 nhưng S1 không thừa nhận việc bán H cho P với số tiền 200.000 đồng.

Bản Cáo trạng số: 42/CT-VKS-TU ngày 20/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên đã truy tố Thào A P về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Thào A P từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng thu giữ của Lò Văn D; 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng và 01 mảnh nilon màu hồng thu giữ của Lò Văn P2; 01 chiếc bật lửa ga màu xanh thu giữ của Thào A P.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn không biết chữ, bị cáo sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, công tác tuyên truyền pháp luật tại địa phương còn chưa cao, do đó bị cáo nhận thức pháp luật còn hạn chế. Bị cáo chỉ vì mục đích muốn có một ít ma túy để sử dụng nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội, bị cáo có bố ruột đã chết, mẹ ruột bị cáo cũng bị xét xử trong ngày hôm nay nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 50, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự xem xét xử phạt bị cáo mức án thấp nhất mức đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo. Ngoài ra, xem xét miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo.

Về vật chứng giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo không bổ sung ý kiến gì thêm cũng không có ý kiến gì và nhất trí với bản Cáo trạng, không tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng không có lý do. Hội đồng xét xử xét thấy trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai, vì vậy việc vắng mặt của người làm chứng không ảnh hưởng đến việc giải quyết nội dung vụ án. Căn cứ vào Điều 293; Điểm d khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo và của người làm chứng tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 18 giờ 35 phút, ngày 13/01/2025, tại nhà ở của gia đình bị cáo Thào A P, sinh năm 1999, trú tại bản Thào, xã H, huyện T, tỉnh Lai Châu, bị cáo P cùng một lúc đã thực hiện hành vi bán trái phép 01 gói Heroin cho 02 người là Lò Văn P2 và Lò Văn D với số tiền 200.000 đồng.

Hồi 19 giờ cùng ngày, khi vừa sử dụng Heroin do mua của Thào A P xong, Lò Văn P2 và Lò Văn D bị phát hiện. Căn cứ lời khai của P2 và D, ngay sau đó Thào A P bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T giữ người và bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp về hành vi mua bán trái phép chất ma tuý.

Hành vi của bị cáo rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được mọi hành vi liên quan đến ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo đã bán H cùng một lúc cho 02 người với mục đích để có ma túy sử dụng cho bản thân, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.

Điều luật quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: ...

c, Đối với 02 người trở lên”.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên đã truy tố bị cáo Thào A P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[4] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Thào A P đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn không biết chữ, sinh sống ở bản T, xã H, huyện T là vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, phạm tội một lần do nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

- Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội.

[5] Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để tiếp tục giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời để góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật trong nhân dân và đảm bảo công tác phòng ngừa chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là làm ruộng thu nhập không ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Tình tiết liên quan đến vụ án:

- Về nguồn gốc số Heroin bán cho Lò Văn D và Lò Văn P2, bị cáo Thào A P khai mua của Lù Thị S1. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai, đồng thời đối chất giữa S1 và bị cáo P nhưng S1 không thừa nhận hành vi bán H cho P. Ngoài lời khai duy nhất của bị cáo P không còn tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh S1 đã bán H cho bị cáo P. Vì vậy không có căn cứ để xử lý đối với Lù Thị S1.

- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Thào A P, Lò Văn D, Lò Văn P2, ngày 22/01/2025 Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt cảnh cáo là đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

- Việc Lò Văn P2 và Lò Văn D sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của gia đình Thào A P: Quá trình điều tra xác định Phía và các thành viên trong gia đình không biết. Vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập xử lý đối với Thào A P về hành vi Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ.

[8] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

- Đối với 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng thu giữ của Lò Văn D; 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng và 01 mảnh nilon màu hồng thu giữ của Lò Văn P2; 01 chiếc bật lửa ga màu xanh thu giữ của Thào A P là công cụ phạm tội, vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

[9] Về án phí: Do bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo đề nghị miễn án phí nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

[10] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, mức hình phạt và các vấn đề liên quan đến vụ án là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[11] Xét đề nghị của người bào chữa về việc áp dụng Điều 50, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự xem xét miễn án phí; miễn hình phạt bổ sung, xử phạt bị cáo mức án thấp nhất mức đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thào A P phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý".
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Thào A P 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/01/2025.

Tiếp tục áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị cáo Thào A P để đảm bảo cho việc thi hành án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  1. Về vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng thu giữ của Lò Văn D; 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng và 01 mảnh nilon màu hồng thu giữ của Lò Văn P2; 01 chiếc bật lửa ga màu xanh thu giữ của Thào A P.

(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo như biên bản giao nhận vật chứng hồi 15 giờ 10 phút, ngày 03/6/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L với Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Uyên)

  1. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
  2. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh;
  • - Sở Tư pháp;
  • - VKSND huyện Tân Uyên;
  • - CA tỉnh Lai Châu
  • (CQĐT, THAHS, trại tạm giam);
  • - CC THADS huyện Tân Uyên;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Lực

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2025/HS- ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU về hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 67/2025/HS- ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thào A P phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger