|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 67/2025/HS-PT Ngày: 23 - 6 - 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
-
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tiến Dũng
- Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Thành Ý; Ông Nguyễn Hữu Bằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hương- Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 44/2025/TLPT-HS ngày 12 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo Nguyễn Hoàng M, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2025/HS-ST ngày 10 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang (viết tắt bản án sơ thẩm).
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Hoàng M, sinh ngày: 08/9/1989 tại huyện V, thành phố Cần Thơ; Nơi cư trú: Ấp V, xã V, huyện V, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: mua bán; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn N (sống); con bà: Huỳnh Ngọc P (sống); Bị cáo có vợ là Trần Thị Mỹ T và có 02 con (lớn nhất sinh năm: 2009 và nhỏ nhất sinh năm: 2011); tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: xấu. Ngày 18/6/2021, Nguyễn Hoàng M bị Phòng PC02, Công an thành phố C ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 29016 về hành vi đánh bạc với số tiền 1.500.000 đồng, chấp hành xong ngày 18/6/2021; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn là cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 24/12/2024 đến nay; Bị cáo vắng mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra vụ án còn có người bị hại nhưng không có kháng cáo hoặc không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị nên không triệu tập
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 06/02/2018, tại quán cà phê “C" thuộc khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang, ông Phan Quốc T1 có gặp bị cáo Nguyễn Hoàng M (viết tắt bị cáo), tại đây hai bên đã lập hợp đồng mua bán lúa. Nội dung hợp đồng thể hiện: bị cáo bán lúa cho ông T1, số lượng khoảng 250 tấn (địa điểm trồng lúa là tại V, thuộc xã X, huyện L, tỉnh Hậu Giang, khoảng 300 công đất), giống lúa RVT, giá bán 7.800 đồng/01kg. Thời gian giao lúa từ ngày 07/02/2018 đến ngày 20/02/2018 (từ 09 giờ đến 17 giờ hàng ngày), lúa giao phải chín vàng đều và không có hột xanh ngậm sữa. Ký hợp đồng xong, ông T1 đã đặt cọc cho M tổng số tiền là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).
Khi đến thời hạn giao lúa thì bị cáo không có lúa để giao cho ông T1 và chiếm đoạt, không trả lại số tiền cọc 100.000.000 đồng cho ông T1.
Quá trình điều tra chứng minh được trên địa bàn xã X, huyện L, tỉnh Hậu Giang không có cánh đồng Vàm Kênh Lá V như thông tin mà bị cáo đưa ra để ông T1 tin tưởng, ký hợp đồng mua lúa. Cánh đồng Vàm Kênh Lá V thuộc ấp V, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. Qua xác minh tại các hộ nông dân ở cánh đồng V thể hiện vào vụ Đông Xuân năm 2018 (khoảng tháng 02/2018) không có ai nhận tiền đặt cọc, bán lúa cho bị cáo. Từ trước đến nay, không có ai tên Nguyễn Hoàng M đến để mua lúa của người dân tại V, những nông dân canh tác lúa ở V xác định khi thu hoạch lúa vụ Đông X khoảng tháng 02/2018 chỉ có bán lúa cho những cò lúa ở địa phương chứ không bán lúa cho cò lúa nào khác. Kết quả làm việc với những người thu mua lúa của nông dân vụ Đông Xuân năm 2018 tại Vàm K thì không có ai bán lúa cho bị cáo Nguyễn Hoàng M.
Như vậy có cơ sở xác định: lợi dụng mối quan hệ quen biết, bị cáo đưa thông tin gian dối là có đặt cọc mua lúa tại cánh đồng V, thuộc xã X, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Từ đó làm cho ông Phan Quốc T1 tin tưởng nên ký hợp đồng mua bán lúa với bị cáo vào ngày 06/2/2018, tại khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang. Bị cáo yêu cầu ông T1 đặt tiền cọc mua lúa 100.000.000 đồng, đến thời hạn giao nhận lúa thì bị cáo không có lúa giao cho ông T1 ở cánh đồng lúa đã hợp đồng và chiếm đoạt số tiền đặt cọc 100.000.000 đồng. Kết quả điều tra trên địa bàn xã X, huyện L, tỉnh Hậu Giang không có cánh đồng Vàm Kênh Lá V.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại ông Phan Quốc T1 số tiền 100.000.000 đồng.
Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2025/HS-ST ngày 10/4/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng M phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng M 09 (chín) tháng tù, thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng; án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025, bị cáo Nguyễn Hoàng M có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa bị cáo vắng mặt và gia đình bị cáo có nộp đơn xin hoãn phiên tòa phúc thẩm lần 2, với lý do bị cáo đang điều trị bệnh tại khoa Nội tổng hợp Bệnh viện Đa khoa quận T, thành phố Cần Thơ.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa trình bày quan điểm như sau:
Kháng cáo của bị cáo là đúng theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa bị cáo có đơn xin vắng mặt lần 2, xét thấy việc bị cáo vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử vẫn xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm
Về nội dung kháng cáo: Bản án sơ thẩm căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật hình sự; tuyên bố bị cáo phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; xử phạt 09 (chín) tháng tù là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo. Nhưng bị cáo có nhân thân xấu, không chấp hành tốt các chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước, cụ thể là có 01 tiền sự, mặc dù đã được xóa nhưng hành vi phạm tội trong vụ án này của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, nên không thể áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự để áp dụng án treo cho bị cáo. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, bản án sơ thẩm chỉ cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự gồm: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã khắc phục lại cho bị hại số tiền 100.000.000 đồng; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là chưa xem xét hết các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo: Vì theo hồ sơ vụ án bị cáo đã cung cấp được 01 giấy xác nhận bị cáo có đóng góp công ích cho xã hội là giúp đỡ gạo cho nhiều hộ dân khó khăn trong mùa dịch covid và thường xuyên hỗ trợ gạo cho người nghèo tại địa phương; 01 đơn xác nhận bị cáo là lao động chính trong gia đìn). Do đó cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trên cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo 06 (sáu) tháng tù, thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên chấp nhận xét đơn theo thủ tục phúc thẩm. Tại phiên tòa bị cáo vắng mặt và có nộp đơn xin hoãn phiên tòa phúc thẩm lần 02, xét thấy sự vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án là đúng theo quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo cũng đã thừa nhận hành vi phạm tội như quyết định của bản án sơ thẩm. Xét thừa nhận của bị cáo là phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm thu thập trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định: vào ngày 06/02/2018, tại quán cà phê “C" thuộc khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang, ông Phan Quốc T1 có gặp bị cáo, tại đây bị cáo đã đưa ra các thông tin gian dối để cho ông T1 tin tưởng là sự thật, nên đã ký hợp đồng mua bán lúa với bị cáo. Sau đó bị cáo đã nhận và chiếm đoạt của ông T1 tổng số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) và sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân hết. Như vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với tình tiết định khung hình phạt “chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật
[3] Về tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội: bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị án ở địa phương. Xét cần có mức án nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, để có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt, đồng thời nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa tội phạm.
[4] Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo thừa nhận hành vi đưa ra thông tin gian dối để chiếm đoạt của bị hại số tiền 100.000.000 đồng nhằm mục đích tiêu xài cá nhân. Bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo. Xét thấy cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt tù có thời hạn cho bị cáo là phù hợp, bởi lẽ ngoài lần phạm tội này thì bị cáo không chấp hành tốt các chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước, là có có 01 tiền sự, mặc dù đã được xóa nhưng hành vi phạm tội trong vụ án này của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, nên không thể áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự để áp dụng án treo cho bị cáo là có cơ sở. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, bản án sơ thẩm chỉ cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự gồm: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã khắc phục lại cho bị hại số tiền 100.000.000 đồng; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Trong đó, đã áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự, cân nhắc mức hình phạt 09 tháng tù là tương xứng với hành vi. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm vẫn chưa xem xét hết các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo: Vì theo hồ sơ vụ án bị cáo có cung cấp được 02 Giấy xác nhận của chính quyền địa phương xã V, huyện V, thành phố Cần Thơ, cụ thể 01 giấy xác nhận bị cáo có đóng góp công ích cho xã hội giúp đỡ gạo cho nhiều hộ dân khó khăn trong mùa dịch covid và thường xuyên hỗ trợ gạo cho người nghèo tại địa phương (bl 138); 01 đơn xác nhận bị cáo là lao động chính trong gia đình (bl 139). Vì vậy Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trên cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự và để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật. Hội đồng xét xử giảm nhẹ thêm cho bị cáo một phần hình phạt để sớm trở về ổn định cuộc sống.
[5] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo về việc xin giảm nhẹ hình phạt. Sửa bản án sơ thẩm
[6] Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu, do kháng cáo được chấp nhận một phần.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoàng M xin giảm nhẹ hình phạt.
Sửa bản án sơ thẩm như sau:
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng M phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; Điều 38; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật hình sự
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng M 06 (sáu) tháng tù, thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
2. Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Hoàng M không phải chịu.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án, ngày 23/6/2025
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Phạm Tiến D |
Bản án số 67/2025/HS-PT ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG về hình sự phúc thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 67/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt Nguyễn Hoàng M 06 tháng tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự
