Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂY NINH

TỈNH TÂY NINH

Bản án số: 67/2025/HS-ST

Ngày 30-5-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Thanh Tú.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Minh Hoàng;
  2. Ông Võ Tòng Quân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Ngọc Dung – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Lê Trà Giang, Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 53/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Bùi Thiên S, sinh năm 1988; nơi thường trú và nơi ở hiện nay: 80/31/7 D, phường E, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Khắc T sinh năm 1960 và bà Thái Thị Kim P sinh năm 1965; vợ tên là Nguyễn Thị T1; con có 02 người, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2018;

- Tiền án: Bản án số 99/2021/HS-ST ngày 14/5/2021 của Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 03-02-2024 chấp hành xong, chưa được xóa án tích.

- Tiền sự: Không có

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 01-11-2024 cho đến nay. (Có mặt)

Bị hại: Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1976; địa chỉ: Số D trệt, T, khu phố E, Phường D, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Bùi Thiên S và Nguyễn Thanh H, sinh năm 1976, ngụ khu phố E, Phường D, Quận E, thành phố Hồ Chí Minh quen biết nhau. Ngày 23/8/2024, bị cáo S có hẹn với anh H tại thành phố B, tỉnh Đồng Nai nên điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, màu xanh đen bạc, biển số 59V2-879.87 đến nơi hẹn, cùng nhau đi ăn uống và nghỉ trọ qua đêm tại thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Sáng ngày 24/8/2024, bị cáo S nhìn thấy thẻ visa ghi nợ Ngân hàng Thương mại cổ phần Q2 (N), số thẻ 4107476002785620, hạn mức tín dụng 71.476.000 đồng của anh H nên nảy sinh ý định lấy trộm nhằm chiếm đoạt tiền bên trong thẻ. Lợi dụng lúc anh H không chú ý, bị cáo S lén lút lấy trộm thẻ visa của anh H cất giấu trong túi áo rồi điều khiển xe đi đến thành phố T, tỉnh Tây Ninh.

Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo S đến cửa hàng Thế giới di động tại số E đường C thuộc Khu phố F, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh sử dụng thẻ ghi nợ visa lấy trộm của anh H mua 01 điện thoại di động Iphone 15 Promax W, 01 sạc Apple 20W USB C trắng, 01 đồng hồ cơ nam dây kim loại ORIENT STAR, 01 điện thoại di động Samsung Galaxy M15 (6GB + 128GB) màu xám, 01 bộ sạc Type C 25W Samsung trắng, 01 bộ pin sạc dự phòng Polymer 10.000mAh không dây, 02 ốp lưng Iphone 15 Promax with MagSafe Apple MT233 nhựa trong, 02 kính bảo vệ camera Iphone 15 Promax OPTIX ALUMINIUM với tổng số tiền 55.008.000 đồng. Sau đó, bị cáo S tiếp tục đến cửa hàng T2 di động tại số B đường C thuộc Khu phố B, Phường B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh sử dụng thẻ tín dụng lấy trộm của anh H để thanh toán mua 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax 256GB Blue Titanium với giá 26.900.000 đồng, 01 bộ sạc Iphone 20W USB C trắng với giá 450.000 đồng và tiền thuế là 2.735.000 đồng. Lúc này, anh H nhận được tin nhắn thông báo phát sinh giao dịch, phát hiện bị mất thẻ đã báo ngân hàng khoá thẻ tín dụng nên bị cáo S chỉ thanh toán được 10.000.000 đồng. Đối với số tiền 20.085.000 đồng còn lại, S sử dụng thẻ tín dụng do Nguyễn Duy Q (không rõ họ tên, địa chỉ) tặng cho bị cáo S để thanh toán 20.000.000 đồng, trả tiền mặt 85.000 đồng. Trong hai lần mua hàng, khi nhân viên cửa hàng yêu cầu cung cấp thông tin để bảo hành, bị cáo S đọc số điện thoại 0903.033.xxx và tên Ngô Văn V (là bạn bè quen biết với S), mục đích tích điểm cho anh V để khi mua hàng được giảm giá. Sau khi mua hàng xong, biết không thể thanh toán bằng 02 thẻ tín dụng của Q, H được nữa nên bị cáo S vứt bỏ (không nhớ địa điểm).

Sau đó, bị cáo S đến khu vực phường N, thành phố T gặp Q1 (không rõ họ tên, địa chỉ) cùng đi ăn và thuê nhà nghỉ ngủ lại (không rõ địa chỉ). Đến sáng ngày 25/8/2024, bị cáo S tặng Q1 điện thoại di động Samsung Galaxy M15, màu xám và 01 bộ sạc Type C 25W Samsung rồi đi về thành phố Hồ Chí Minh. Do không có tiền tiêu xài, S bán điện thoại Iphone 15 Promax White Titanium cùng các phụ kiện cáp sạc, ốp lưng, kính bảo vệ camera cho 01 người phụ nữ (không rõ họ tên, địa chỉ) với giá 24.000.000 đồng. Đối với điện thoại di động Iphone 15 Promax Blue Titanium cùng các phụ kiện cáp sạc, ốp lưng, kính bảo vệ camera, bị cáo S tặng cho

chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1987 là vợ của bị cáo S, nói dối tiền mua điện thoại do buôn bán có được. Đồng thời, tặng đồng hồ cơ nam dây kim loại ORIENT STAR cho 01 người đàn ông quốc tịch Đài Loan (không rõ họ tên). Riêng 01 bộ pin sạc dự phòng Polymer 10.000mAh không dây, Sinh đánh rơi, không rõ địa điểm.

Riêng anh Nguyễn Thanh H sau khi phát hiện bị mất tiền đã đến Công an P1, thành phố T, tỉnh Tây Ninh trình báo. Qua xác minh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Tây Ninh xác định Bùi Thiên S là người thực hiện hành vi nên mời làm việc.

Quá trình điều tra, bị cáo Bùi Thiên S thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, tự nguyện bồi thường thiệt hại. Bị cáo S đã bị kết án chưa được xoá án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm.

Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: Có bản kê kèm theo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho anh Nguyễn Thanh H số tiền 65.008.000 đồng.

Qua xác minh Bùi Thiên S không có tài sản nên không tiến hành kê biên.

Đối với Ngô Văn V không cùng thực hiện hành vi phạm tội với Bùi Thiên S nên không xử lý.

Đối với người mua điện thoại của S; Q1, người nước ngoài và Nguyễn Thị T1 nhận tài sản từ Bùi Thiên S, do không xác định được nhân thân, lai lịch không làm việc được, không biết tài sản do S phạm tội mà có nên không xử lý.

Tại Cáo trạng số: 52/CT-VKSTPTN ngày 17-4-2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh truy tố bị cáo Bùi Thiên S về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c, khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự;

Trong phần tranh luận, Đại diện Viện kiểm sát đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh phát biểu: giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Bùi Thiên S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ điểm c, khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo Bùi Thiên S, mức hình phạt tù từ 02 đến 03 năm tù.

Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tự bào chữa.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng tính hợp pháp của các hành vi và quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Ngày 24-8-2024, bị cáo Bùi Thiên S do có quen biết với anh H nên cùng nhau đi ăn uống và nghỉ trọ qua đêm tại thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Bị cáo canh lúc anh H đang ngủ say đã lén lút lấy trộm thẻ ghi nợ visa Ngân hàng Thương mại cổ phần Q2 (N) số thẻ 4107476002785620 của anh Nguyễn Thanh H có hạn mức trên 2.000.000 đồng, nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền trong thẻ. Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Thiên S thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và phù hợp với các chứng cứ được thẩm tra làm rõ. Do đó có đủ căn cứ kết luận bị cáo Bùi Thiên S phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 của Bộ luật hình sự.

[3] Khi trộm được thẻ bị cáo đến khu vực thành phố T, tỉnh Tây Ninh tiêu xài vào mục đích cá nhân, chiếm đoạt số tiền 65.008.000 đồng trong thẻ của anh H thì bị anh H phát hiện phong toả thẻ. Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo với tình tiết định khung tăng nặng là số tiền chiếm đoạt trên 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng, theo quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 173 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ đúng pháp luật.

[4] Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi này đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, đồng thời gây mất trật tự trị an xã hội ở địa phương. Do lười lao động nhưng muốn có tiền tiêu xài nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo đã từng bị xử về tội trộm cắp tài sản, khi chấp hành xong chưa được xoá án tích, nay tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, chứng tỏ bị cáo chưa ăn năn, chưa hối cải. Do đó cần có mức hình phạt nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại Bản án số 99/2021/HS-ST ngày 14-5-2021 của Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xử phạt bị cáo Bùi Thiên S 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành án tại Trại giam H1 đến ngày 03-02-2024 chấp hành xong, chưa được xóa án tích đến tháng 8-2024 phạm tội mới, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Bùi Thiên S đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 65.008.000 đồng; Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo S có thái độ thành khẩn khai báo; Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[7] Biện pháp tư pháp:

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường số tiền chiếm đoạt cho bị hại xong, bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Về xử lý vật chứng: Các tài sản không phải là công cụ, phương tiện phạm tội như xe mô tô thu giữ của bị cáo tuyên trả cho bị cáo; Các vật chứng khác liên quan đến việc phạm tội hoặc do phạm tội mà có, còn giá trị thì tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước, không còn giá trị sử dụng thì tịch thu tiêu huỷ.

[8] Đối với Ngô Văn V không cùng thực hiện hành vi phạm tội với Bùi Thiên S; Đối với người mua điện thoại của S; Q1, người nước ngoài do không xác định được nhân thân, lai lịch không làm việc được, Nguyễn Thị T1 nhận tài sản từ Bùi Thiên S không biết tài sản do S phạm tội mà có nên. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh không xem xét xử lý là có căn cứ.

[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Bùi Thiên S phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Bùi Thiên S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào điểm c, khoản 2, Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Bùi Thiên S 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01-11-2024.

2. Biện pháp tư pháp:

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường số tiền chiếm đoạt cho bị hại xong, bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

* Hoàn trả cho bị cáo S:

  • 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, màu xanh đen bạc, biển số 59V2-879.87, số máy: JP63E2072198, số khung: 6320HZ060306

* Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:

  • 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone 15 Promax Blue T.
  • 01 (một) dây sạc màu trắng; một cục sạc Apple 20W USB màu trắng.

* Tịch thu tiêu hủy:

  • 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh.
  • 01 (một) áo khoác dài tay màu đen.
  • 01 (một) quần tây dài màu xám.
  • 01 (một) đôi giày màu đen.

(Hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh đang giữ theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 25-4-2025)

3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Bùi Thiên S phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

4. Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV. TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND thành phố Tây Ninh;
  • - Chi cục THADS thành phố Tây Ninh;
  • - Cơ quan CSĐT CA tỉnh Tây Ninh;
  • - Phòng PV 06 CA tỉnh Tây Ninh;
  • - Công an tỉnh Tây Ninh;
  • - Phân trại tạm giam khu vực TP TN;
  • - Bị cáo;
  • - Người TGTT khác;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Thanh Tú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2025/HS-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 67/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger