Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2025/HNGĐ-ST

Ngày 16-4-2025

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyên.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Châu Hồng Nga;

Bà Nguyễn Thị Ngọc Diễm.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Việt Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 87/2025/TLST–HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 56/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2025/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1989. Thường trú: Thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Tạm trú: Căn hộ chung cư số I, Block C, khu C, khu phố Q, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Phan Thành T, sinh năm 1982. Thường trú: Số A, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long. Tạm trú: Căn hộ chung cư số I, Block C, khu C, khu phố Q, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 26 tháng 02 năm 2025, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

Bà Nguyễn Thị H và ông Phan Thành T tự nguyện yêu nhau, tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long theo Giấy chứng nhận kết hôn số 101 ngày 17/10/2022. Hôn nhân của bà H và ông T là tự nguyện, có sự chấp thuận của gia đình hai bên. Thời điểm kết hôn bà H và ông T thuê nhà để sinh sống tại phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Sau khi kết hôn, bà H và ông T chung sống hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên tranh cãi. Cuộc sống chung không hạnh phúc, hai bên đã nhiều lần cố gắng chung sống hòa thuận nhưng không thành. Ông T đi làm nhưng tiền lương không dành cho cuộc sống gia đình, thường xuyên nhậu nhẹt, chơi bời thâu đêm, không về với gia đình. Bà H và ông T đã sống ly thân từ tháng 8/2023, bà H chuyển ra sống tại căn hộ chung cư S Block C, khu phố Q, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Sau đó bà H sang nước ngoài làm việc và hàng tháng bà H có gửi tiền về để thuê người trông và nuôi con chung chứ ông bà nội không phải là người nuôi dưỡng cháu. Khoảng một thời gian sau đó bà H có tạo cơ hội để hàn gắn gia đình, để ông T sinh sống tại căn hộ đến tháng 12/2024 nhưng không thể hàn gắn được nên bà H và ông T tiếp tục sống ly thân từ tháng 12/2024 cho đến nay. Thời gian trước khi đi nước ngoài, bà H mang bầu và sinh con, ông T thường xuyên nhậu nhẹt, chơi bida đến nửa đêm hoặc qua đêm mới về. Hiện nay con chung là Phan Nguyễn Bảo N đang sống với bà H, hoàn toàn do bà H chăm sóc và nuôi dưỡng. Bà H đang làm nghề kinh doanh, thu nhập một tháng khoảng 180.000.000 – 200.000.000 đồng. Nay, bà H xác định tình cảm giữa bà H và ông T không còn nên yêu cầu Toà án giải quyết như sau:

  1. Về quan hệ hôn nhân: yêu cầu được ly hôn với ông Phan Thành T.
  2. Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên là Phan Nguyễn Bảo N, sinh ngày 02/01/2023. Sau ly hôn, bà H yêu cầu được là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phan Nguyễn Bảo N. Bà H không yêu cầu ông Phan Thành T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với cháu Phan Nguyễn Bảo N.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Quá trình tố tụng bị đơn ông Phan Thành T trình bày:

Ông Phan Thành T và bà Nguyễn Thị H tự nguyện yêu nhau, tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long theo Giấy chứng nhận kết hôn số 101 ngày 17/10/2022. Hôn nhân của ông T và bà H là tự nguyện, có sự chấp thuận của gia đình hai bên. Tuy nhiên đời sống vợ chồng bắt đầu có nhiều mẫu thuẫn từ khi vợ ông T mang bầu. Nguyên nhân mâu thuẫn bà H trình bày do ông T đi làm nhưng tiền lương không dành cho cuộc sống gia đình, như vậy là có những điểm không đúng. Từ khi vợ chồng kết hôn cho đến khi vợ ông T đi nước ngoài thì ông T chu cấp tiền một tháng khoảng 9.000.000 - 10.000.000 đồng để ông bà nội nuôi dưỡng con chung. Bà H cho rằng ông T thường xuyên nhậu nhẹt, chơi bời thâu đêm, không về với gia đình là không đúng. Ông T đi làm ca đêm, khi đó thỉnh thoảng ông T mới nhậu với các anh em trong Công ty nhưng một mình ông T vẫn chăm lo gia đình từ thời điểm kết hôn đến khi con chung 2 tuổi. Trong khoảng thời gian bốn, năm tháng ông T thu nhập ít thì vợ chồng có bàn bạc với nhau, kinh tế thì vợ chồng phụ nhau để chăm lo cho gia đình. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bị đơn không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” của nguyên đơn.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng, đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định; không kiến nghị khắc phục, bổ sung các thủ tục tố tụng. Quan hệ pháp luật là ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử làm rõ tại phiên tòa nhận thấy mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị H và ông Phan Thành T là trầm trọng, không hàn gắn đoàn tụ được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H. Về con chung: đề nghị giao cháu Phan Nguyễn Bảo N, sinh ngày 02/01/2023 cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà H không yêu cầu ông Phan Thành T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với cháu Phan Nguyễn Bảo N. Về tài sản chung, nợ chung: các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H khởi kiện tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn ông Phan Thành T hiện nay đang sinh sống tại địa chỉ: Căn hộ chung cư S, Block C, khu C, khu phố Q, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương nên căn cứ theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương; quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt; bị đơn ông Phan Thành T vắng mặt không rõ lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H với bị đơn ông Phan Thành T tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 17/10/2022 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 101 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo lời trình bày của bà H, thời gian đầu bà H và ông T chung sống hạnh phúc, đến tháng 8/2023 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra tranh cãi, ông T đi làm nhưng tiền lương không dành cho chăm lo cuộc sống gia đình, thường xuyên nhậu nhẹt, chơi bời thâu đêm, không về với gia đình. Thời gian trước khi đi nước ngoài, bà H mang bầu và sinh con, ông T thường xuyên nhậu nhẹt, chơi bida đến nửa đêm hoặc qua đêm mới về. Khi mâu thuẫn xảy ra hai vợ chồng đã tìm cách giải quyết mâu thuẫn, bà H có tạo cơ hội để hàn gắn gia đình, để ông T sinh sống tại căn hộ đến tháng 12/2024 nhưng không thể hàn gắn được nên bà H và ông T tiếp tục sống ly thân từ tháng 12/2024 cho đến nay. Bản thân ông T cũng thừa nhận đời sống vợ chồng bắt đầu có nhiều mẫu thuẫn từ khi vợ ông T mang bầu. Bị đơn ông T không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H nhưng bà H xác định tình cảm giữa hai vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với ông T. Xét thấy, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Để đạt được mục đích đó, vợ chồng phải thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Tuy nhiên, do mâu thuẫn vợ chồng giữa ông T và bà H đã lâu, cả hai không có giải pháp nào để khắc phục, tình cảm ngày càng phai nhạt và hiện nay không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Như vậy, chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không mang lại hạnh phúc cho nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, bà H yêu cầu được ly hôn với ông T là có căn cứ để chấp nhận.

[5] Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là cháu Phan Nguyễn Bảo N, sinh ngày 02/01/2023. Bà H yêu cầu được nuôi cháu Phan Nguyễn Bảo N và không yêu cầu ông Phan Thành T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, hiện nay cháu N dưới 36 tháng tuổi và đang sống chung với bà H, bà H có việc làm, thu nhập ổn định đảm bảo đủ điều kiện để nuôi dưỡng cháu N phát triển bình thường. Do vậy, Hội đồng xét xử giao cháu N cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Ghi nhận sự tự nguyện của bà H không yêu cầu ông Phan Thành T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với cháu Phan Nguyễn Bảo N.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[7] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

[8] Về án phí: Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và các Điều 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H đối với ông Phan Thành T về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
    • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Phan Thành T (Giấy chứng nhận kết hôn số 101 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long cấp ngày 17/10/2022).
    • - Về con chung: Giao con chung cháu Phan Nguyễn Bảo N, sinh ngày 02/01/2023 cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị H không yêu cầu ông Phan Thành T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với cháu Phan Nguyễn Bảo N.
    • Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.
    • - Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
  2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng được khấu trừ 300.000 đồng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007856 ngày 28 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Bình Dương (01);

- VKSND thành phố Dĩ An (01);

- Chi cục THADS thành phố Dĩ An (01);

- Các đương sự (02);

- UBND xã Tân Hạnh, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long (01);

- Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2025/HNGĐ-ST ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 67/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con giữa nguyên đơn Nguyễn Thị H với bị đơn Phan Thành T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger