TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN Bản án số: 67/2025/DS-ST Ngày: 08-4-2025 “V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Linh Duy
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Lý Văn Hùng
- Ông Nguyễn Chí Lin
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thoa – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa tham gia phiên tòa:
Bà Đinh Thị Mai – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 919/2024/TLST-DS, ngày 31/10/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2025/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm H, sinh năm 1984. (có mặt)
- Bị đơn: Bà Phạm Thị T, sinh năm 1978. (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Tấn L, sinh năm 1974. (vắng mặt)
Địa chỉ: Số A khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Cùng địa chỉ: Số A khu phố E, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 24/6/2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Phạm H trình bày:
Ngày 19/11/2022, bà Phạm Thị T có mượn của ông H1 số tiền là 850.000.000 đồng (T1 trăm năm mươi triệu đồng) không lãi suất, thời hạn trả là 12 tháng, việc mượn tiền này có ông Nguyễn Tấn L là chồng bà T cũng biết và đồng ý. Khoảng 06 tháng sau khi vay tiền, bà T có trả ông H1 được số tiền 250.000.000 đồng, việc trả tiền không có lập giấy tờ, còn lại số tiền 600.000.000 đồng đến nay bà T vẫn chưa hoàn trả, ông H1 nhiều lần đến nhà tìm gặp và điện thoại nhưng bà T và ông L cố tình tránh né. Nay ông H1 khởi kiện yêu cầu bà Phạm Thị T và ông Nguyễn Tấn L liên đới trả ông số tiền vay còn nợ là 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng), không yêu cầu tiền lãi phát sinh.
Bị đơn bà Phạm Thị T trình bày tại Biên bản lấy lời khai ngày 23/01/2025: bà T thừa nhận giữa bà với ông H1 có nhiều lần vay mượn tiền với nhau trong một thời gian dài nên bà không nhớ chính xác số tiền đã vay của ông H1 và số tiền đã trả cho ông H1 bao nhiêu, còn nợ bao nhiêu. Bà T xác định chữ ký trong Giấy mượn tiền ngày 19/11/2022 do ông cấp trong hồ sơ vụ án là của bà ký. Việc vay tiền giữa bà và ông H1, thì chồng bà là ông Nguyễn Tấn L hoàn toàn không biết và không có liên quan.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tấn L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, được thông báo về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng ông L không có ý kiến trình bày trong vụ án này.
Tại phiên tòa, nguyên đơn Phạm H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Quan điểm của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án theo qui định tại Điều 262 BLTTDS năm 2015:
Về thủ tục: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã đưa đúng và đầy đủ người vào tham gia tố tụng, việc thu thập chứng cứ và điều tra vụ án được tiến hành khách quan, đúng pháp luật; không có đương sự khiếu nại trong quá trình giải quyết vụ án. Tham gia trực tiếp tại phiên tòa xét thấy các bên đương sự và Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng qui định pháp luật.
Về nội dung vụ án: Thấy rằng, bà Phạm Thị T có lời khai xác định chữ ký trong Giấy mượn tiền ngày 19/11/2022 do ông Huỳnh cung C trong hồ sơ vụ án là của bà T ký, do đó có căn cứ xác định bà Phạm Thị T có mượn ông Phạm H số tiền 850.000.000 đồng vào ngày 19/11/2022, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận tình tiết ông Phạm H tự nguyện xác nhận bà T đã trả được số tiền 250.000.000 đồng, còn lại 600.000.000 đồng chưa trả.
Xét trách nhiệm liên đới của ông Nguyễn Tấn L: Giấy mượn tiền không có tên và chữ ký tên của ông L, bà T trình bày ông L không biết và không có liên quan đến số tiền vay của ông H1; ông H1 cũng không chứng minh được ông L có biết và thống nhất việc bà T vay tiền của ông H1, do đó không có cơ sở buộc ông L có nghĩa vụ liên đới với bà T trả nợ.
Do đó, đề nghị HĐXX chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm H, buộc bà Phạm Thị T trả cho ông Phạm H số tiền 600.000.000 đồng, không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc ông Nguyễn Tấn L cùng liên đới với bà Phạm Thị T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Theo đơn khởi kiện ngày 24/6/2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông Phạm H khởi kiện bà Phạm Thị T, ông Nguyễn Tấn L tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Giấy mượn tiền ngày 19/11/2022. Bà Phạm Thị T có địa chỉ cư trú tại huyện Đ, tỉnh Long An. Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý giải quyết vụ án là còn trong thời hiệu khởi kiện và xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp vay tài sản”, việc thụ lý là đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 26, Điều 35, Điều 39 BLTTDS năm 2015.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự:
Tại phiên tòa, bị đơn Phạm Thị T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Tấn L đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt; Căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[1.3]. Sau khi thụ lý vụ án, nguyên đơn có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, Tòa án đã thực hiện thủ tục mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Các chứng cứ của vụ án đã được đương sự giao nộp đầy đủ và được công khai đúng thủ tục. Vụ án này Tòa án có thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp có Kiểm sát viên tham gia, vụ án được đưa ra xét xử là đúng quy định của pháp luật.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Xem xét chứng cứ, ý kiến trình bày của nguyên đơn:
Nguyên đơn ông Phạm H khởi kiện có cung cấp chứng cứ là Giấy mượn tiền ngày 19/11/2022 thể hiện cho mượn số tiền 850.000.000 đồng có chữ ký, viết tên của bà Phạm Thị T. Bà Phạm Thị T thừa nhận chữ ký, viết tên trong Giấy mượn tiền ngày 19/11/2022 là của bà.
[2.2]. Xem xét chứng cứ, ý kiến trình bày của bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Bị đơn bà Phạm Thị T trình bày giữa bà và ông H1 có nhiều lần vay mượn tiền với nhau trong một thời gian dài nên bà không nhớ chính xác số tiền đã vay của ông H1, số tiền đã trả cho ông H1 bao nhiêu, còn nợ bao nhiêu, bà cần thời gian để nhớ lại và sẽ trình bày sau cho Tòa án. Tuy nhiên hết thời hạn do Tòa án ấn định, cho đến tại phiên tòa, bà T vẫn vắng mặt cũng không xuất trình chứng cứ cũng như trình bày bổ sung liên quan đến yêu cầu khởi kiện của ông H1.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng cho ông L, ông L biết được yêu cầu khởi kiện của ông H1, không có ý kiến phản hồi hay phản đối, không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ nào
[2.3]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Căn cứ vào Giấy mượn tiền ngày 19/11/2022 và lời trình bày của bà T về việc xác nhận có ký tên vào giấy mượn tiền, có cơ sở xác định bà T có mượn của ông H1 số tiền 850.000.000 đồng. Ông H1 trình bày và thừa nhận bà T đã trả được số tiền 250.000.000 đồng, tình tiết này có lợi cho bà T, xác định số tiền còn nợ lại là 600.000.000 đồng nên yêu cầu khởi kiện của ông H1 là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét ông Phạm H yêu cầu buộc ông Nguyễn Tấn L có nghĩa vụ liên đới với bà Phạm Thị T trả tiền cho ông H1.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng cần thiết cho ông L, ông L biết được yêu cầu khởi kiện của ông H1 nhưng không có ý kiến phản hồi hay phản đối, không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ nào. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết là phù hợp Điều 91, 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Că cứ theo Trích lục kết hôn số 263 ngày 24/6/2024 của UBND thị trấn Đ, xác định bà Phạm Thị T và ông Nguyễn Tấn L xác lập quan hệ hôn nhân từ ngày 14/6/2006 và đến nay vẫn còn tồn tại quan hệ hôn nhân. Như vậy, số tiền vay ngày 19/11/2022 phát sinh trong thời kỳ hôn nhân của bà T và ông L. Do đó, cần buộc ông L có trách nhiệm liên đới với bà T trả nợ cho ông Phạm H là phù hợp với Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và gia đình.
Từ phân tích trên, xét có căn cứ chấp nhận đối với yêu cầu khởi kiện của ông Phạm H buộc bà Phạm Thị T và ông Nguyễn Tấn L liên đới trả số tiền vay còn nợ lại là 600.000.000 đồng theo qui định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2.4]. Về lãi suất: Ông H không yêu cầu trả lãi suất phát sinh nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3]. Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp và có căn cứ chấp nhận một phần nên HĐXX ghi nhận.
[4].Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí tòa án;
Buộc bị đơn bà Phạm Thị T và ông Nguyễn Tấn L liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho ông Phạm H là 28.000.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 5, Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 147, Điều 483 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 280, Điều 466, Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình 2014
Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH.14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm H về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với bà Phạm Thị T, ông Nguyễn Tấn L .
1.1. Buộc bà Phạm Thị T, ông Nguyễn Tấn L có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Phạm H số tiền vay là 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng) theo “Giấy mượn tiền ngày 19/11/2022”.
1.2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) bên có nghĩa vụ chưa thi hành xong số tiền trên thì còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi suất theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thuờng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí tòa án;
Buộc bà Phạm Thị T và ông Nguyễn Tấn L liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho ông Phạm H là 28.000.000 đồng (Hai mươi tám triệu đồng).
H2 lại cho ông Phạm H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 14.000.000đồng theo Biên lai thu số 0006219 ngày 28/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa.
3. Về quyền kháng cáo: Án sơ thẩm xét xử tuyên án công khai, trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
“Trường hợp bản án hoặc quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án là 05 năm theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án".
Thành viên Hội đồng xét xử | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
Nguyễn Chí L1 – L | Nguyễn Khắc Linh Duy |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Khắc Linh Duy |
Bản án số 67/2025/DS-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 67/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ông Phạm H "tranh chấp hợp đồng vay tài sản" với bà Phạm Thị T