Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản án số: 67/2025/HS-ST

Ngày 27-3-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thuý Mai và ông Chu Văn Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện VKSND thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Quỳnh A - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại Phòng xét xử số 3 - Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 46/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 đối với:

Họ và tên: Nguyễn Đức C; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 19 tháng 8 năm 1984 tại Bắc Kạn; Nơi cư trú: Thôn N, xã Đ, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: Không; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông: Nguyễn Duy Đ, sinh năm 1961; Con bà: Mạc Thị T, sinh năm 1959; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Luân Thúy H, sinh năm 2002; Có 01 con, sinh năm 2020 (đã chết).

- Tiền án: Tại Bản án số 79/2022/HS-ST Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/01/2024.

- Tiền sự: Không.

- Nhân thân: Ngày 03/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh Bắc Kạn ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Ngày 22/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh Bắc Kạn ra Quyết định khởi tố vụ án khởi tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

Tại bản án số 21/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Đức C bị xử phạt 24 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ Luật hình sự.

Bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, theo Quyết định tạm giam của Tòa án nhân dân huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn.

- Bị hại: Anh Lý Trần L, sinh năm 1974, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Xóm G, xã S, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Lý Trần P, sinh năm 1951, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Nơi cư trú: Tổ C, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

- Người làm chứng: Cháu Lý Trần D, sinh năm 2013, vắng mặt.

Người người đại diện hợp pháp cho cháu D: Anh Lý Trần L, sinh năm 1974 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Xóm G, xã S, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 16/9/2024, Nguyễn Đức C đi bộ đến nhà anh Lý Trần L, sinh năm 1974, nơi cư trú: Xóm G, xã S, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (anh L là anh họ của C). Thấy C đến chơi nên cháu Lý Trần D sinh năm 2013, nơi cư trú: Xóm G, xã S, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (D là con trai của anh L) gọi điện thông báo cho anh L về. Khoảng 20 giờ cùng ngày, anh L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 20B1-932.82, màu Đ1-Xám-Đen về nhà. Lúc này, anh L để xe ở sân trước cửa nhà rồi đi vào bếp nấu cơm. Chính thấy anh L để chìa khóa xe máy và 01 chiếc điện thoại di động của anh L ở bàn trong bếp nên nảy sinh ý định trộm cắp điện thoại và xe mô tô của anh L. C bảo anh L đi tắm để C nấu cơm giúp, anh L đồng ý. Thấy anh L đi tắm, C đi đến lấy điện thoại của anh L cho vào túi quần rồi cầm chìa khóa xe mô tô anh L để trên bàn ăn trong bếp đi ra sân lấy xe. Khi đi đến cửa nhà, cháu D gặp và hỏi C đi đâu thì C nói dối là đi mua thuốc lá nên cháu D đi vào phòng ngủ. N cơ hội không có ai quản lý tài sản, C nhanh chóng đi ra sân, điều khiển xe mô tô của anh L rời đi. C đi đến thành phố P, tỉnh Thái Nguyên để tìm cửa hàng mua xe mô tô và điện thoại mà C trộm cắp được. Khi đi qua khu vực thành phố T, C thấy 01 cửa hàng mua bán điện thoại (không rõ địa chỉ) nên vào hỏi bán, C gặp 01 nam giới (không rõ lai lịch) rồi thỏa thuận bán chiếc điện thoại với giá 800.000 đồng, C nói chiếc điện thoại là của C. Sau đó, C tiếp tục điều khiển xe mô tô đến khu vực thành phố P, tỉnh Thái Nguyên tìm nơi bán xe. Đến khu vực thành phố P, C vào 01 cửa hàng mua bán xe máy cũ (không rõ địa chỉ) gặp 01 người nam giới (không rõ lai lịch) là chủ quán và thỏa thuận bán xe mô tô trộm cắp của anh L với giá 2.700.000 đồng. Khi bán C nói với chủ cửa hàng là xe của C, bị mất giấy tờ nên bán rẻ. Số tiền bán tài sản trộm cắp được C đã mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân hết.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 225 ngày 06/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố T kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 12, màu xanh lá, số IMEI 862938061988927, đã qua sử dụng, trị giá 2.200.000 đồng; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn: Đỏ- Xám-Đen, biển kiểm soát 20B1-932.82, đã qua sử dụng, trị giá 2.860.000 đồng. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 5.060.000 đồng.

Cáo trạng số 31/CT-VKSTPTN ngày 22/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Đức C về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã trình bày bản luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, h khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Nguyễn Đức C từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: không xem xét giải quyết. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận với Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã mô tả, bị cáo xác định cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố là đúng người, đúng tội.

Xét thấy lời nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là tự nguyện, khách quan, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường, kết luận định giá tài sản, lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: Hồi 17 giờ 00 phút ngày 16/9/2024 tại xóm G, xã S, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Đức C có hành vi trộm cắp của anh Lý Trần L 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 12, màu xanh lá, số IMEI 862938061988927 trị giá 2.200.000 đồng và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn: Đỏ-Xám-Đen, biển kiểm soát 20B1-932.82 trị giá 2.860.000 đồng. Tổng giá trị tài sản đã chiếm đoạt là 5.060.000 đồng.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Đức C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Nội dung điều luật quy định như sau:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do đó bị cáo phải chịu hình phạt mà điều luật quy định.

[3]. Xét tính chất hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi mình đã gây ra.

[4]. Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy:

  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Đức C trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, số tiền phạm tội gây thiệt hại không lớn nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • - Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền án và có nhân thân xấu.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra giải quyết vụ án xác định bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, không có tài sản, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6]. Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra không thu hồi được tài sản do C trộm cắp, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Tại Cơ quan điều tra anh Lý Trần L yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 12, màu xanh lá, số IMEI 862938061988927, đã qua sử dụng, trị giá 2.200.000 đồng; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn: Đỏ-Xám-Đen, biển kiểm soát 20B1-932.82, đã qua sử dụng, trị giá 2.860.000 đồng. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 5.060.000 đồng theo Kết luận định giá tài sản số số 225 ngày 06/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố T trong tố tụng hình sự thành phố T. Tại phiên tòa anh L vắng mặt, tuy nhiên tại đơn xin xét xử vắng mặt anh L không yêu cầu bị cáo phải bồi thường giá trị tài sản chiếm đoạt là 5.060.000 đồng nữa. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Tại đơn xin xét xử vắng mặt ngày 13/02/2025, ông Lý Trần P là bố đẻ của anh Lý Trần L xác định: Chiếc xe mô tô xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 20B1-932.82 do Chính trộm cắp của anh L mang tên ông, nhưng ông đã cho anh L nên thuộc quyền quản lý sử dụng của anh L, ông không có đề nghị gì.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[9]. Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 12 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 20B1-932.82 là tài sản của anh Lý Trần L bị C chiếm đoạt quá trình điều tra không thu được tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra Quyết định truy tìm số 4796, 4770 ngày 13/12/2024 đối với các tài sản trên.

[10]. Trong vụ án này, chủ cửa hàng mua bán điện thoại và chủ cửa hàng mua bán xe mô tô là người đã mua các tài sản do phạm tội mà có của C, C khai nhận do không nhớ được địa điểm nên không thể cung cấp được thông tin của những người mua trên. Ngoài ra C còn khai nhận sau khi bán các tài sản trộm cắp được, C đã sử dụng số tiền trên để mua ma túy của một người không quen biết để sử dụng cho bản thân. Quá trình điều tra, không xác định được địa chỉ cửa hàng; nhân thân, lai lịch của những người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không có căn cứ để xử lý.

[11]. Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tại phiên toà hôm nay về áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng, khung hình phạt và các vấn đề liên quan trong vụ án đối với bị cáo là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 326 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s, h khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 47, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; các điều 106, 136, 299, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về hình phạt chính: Xử phạt Nguyễn Đức C 15 (mười lăm) tháng tù.
  2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.
  4. Về vật chứng: Không xem xét giải quyết.
  5. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND TP. Thái Nguyên;
  • - CQĐT Công an tỉnh Thái Nguyên;
  • - Cơ quan THAHS;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Kạn;
  • - Chi cục THADS TP. Thái Nguyên;
  • - Bị cáo; Bị hại; Người có QLNVLQ;
  • - UBND Thôn Nà Khanh, xã Đổng Xá, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn;
  • - Lưu: HS, VT, THAHS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Hoàng Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 67/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức chính phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger