|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 67/2025/HN-ST Ngày: 18/3/2025 V/v "ly hôn, t/c nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thanh Tuyền
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Trí, ông Võ Thanh Nhàn
- Thư ký phiên tòa: bà Lê Nguyễn Phương Vy, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Kiều Tiên, Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 770/2024/TLST-HN ngày 15 tháng 11 năm 2024 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2025/QĐXXST-HN ngày 05 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Thúy L, sinh năm 1994, cư trú: ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; địa chỉ liên lạc: số C, ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).
- Bị đơn: ông Phạm Văn T, sinh năm 1992, cư trú: ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng ngày 15/11/2024, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thúy L trình bày:
Bà và ông T tự tìm hiểu nhau và tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện C, tỉnh An Giang vào ngày 09/3/2015. Sau khi kết hôn, bà và ông T ở bên nhà của ông T tại ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2017 ông T thường xuyên chơi cờ bạc, bà cũng có khuyên ngăn nhưng ông T không thay đổi vẫn chơi cờ bạc. Đến khoảng năm 2021 thì bà và ông T có đi làm ở Bình Dương, khi đó ông T không lo cho gia đình, tiền làm ra thì ông T chỉ lo cờ bạc dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Ông T cũng có hứa với bà sẽ không cờ bạc nữa mà sẽ lo cho gia đình nhưng sau đó ông T không thay đổi, vẫn tiếp tục cờ bạc. Đến khoảng tháng 5/2023 sau khi bà đi làm về, thì phát hiện ông T tự bỏ về nhà ông T tại ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang. Bà và ông T đã không còn sống chung với nhau khoảng 01 năm. Nay do không còn tình cảm nên bà yêu cầu ly hôn với ông T.
Thời gian trước đây, khoảng đầu năm 2022 đến khoảng cuối năm 2023, bà làm công nhân ở Bình Dương, sau đó bà mới về nhà cha, mẹ của bà ở huyện T, tỉnh Đồng Tháp làm phụ giúp quán ăn, thu nhập khoảng 5 đến 6 triệu đồng/tháng đến tháng 10/2024 thì bà nghỉ việc. Hiện nay bà chưa có việc làm, bà đang đi xin việc.
Về con chung: có 02 con chung tên Phạm Thị Ngọc B, sinh ngày 28/01/2014 và Phạm Văn T1, sinh ngày 19/01/2019. Hiện 02 con đang ở chung với ông T. Khi ly hôn, bà L yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Phạm Thị Ngọc B sinh ngày 28/01/2014, bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Bà L đồng ý cho ông T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Phạm Văn T1, sinh ngày 19/01/2019 và bà không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Phạm Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông T vẫn không đến Tòa án.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà L vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông T, bà yêu cầu được nuôi con chung tên Phạm Thị Ngọc B, sinh ngày 28/01/2014, bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Bà L đồng ý cho ông T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Phạm Văn T1, sinh ngày 19/01/2019 và bà không cấp dưỡng nuôi con.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt là đúng quy định.
- Về việc giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L đối với ông T. Bà L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung tên Phạm Thị Ngọc B, sinh ngày 28/01/2014, ông T không cấp dưỡng nuôi con. Ông T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Phạm Văn T1, sinh ngày 19/01/2019, bà L không cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bà Nguyễn Thị Thúy L có đơn yêu cầu ly hôn với ông Phạm Văn T, ông T cư trú ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.
Ông Phạm Văn T đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
bà L và ông T quen biết tìm hiểu nhau sau đó tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện C, tỉnh An Giang nên quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông T là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Bà L xác định vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do ông T không chăm lo gia đình, vợ chồng thường xuyên xảy ra cự cãi, đến cuối năm 2024 thì vợ chồng ly thân cho đến nay.
Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà L, ông T xuất phát từ việc ông T không chăm lo cuộc sống kinh tế gia đình dẫn đến vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bà H (mẹ ruột của ông T) cũng cho biết vợ chồng bà L, ông T đã ly thân. Bà L và ông T không còn sống chung từ cuối năm 2024 cho đến nay. Từ đó cho thấy, mâu thuẫn giữa bà L, ông T là trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L đối với ông T theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[2.2] Về quan hệ con chung:
có 02 con chung tên Phạm Thị Ngọc B, sinh ngày 28/01/2014 và Phạm Văn T1, sinh ngày 19/01/2019. Hiện 02 con đang ở chung với ông T.
Tại biên bản ghi lời khai của người làm chứng ngày 26/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, bà Nguyễn Thị H (mẹ ruột của ông Phạm Văn T) cho biết, về mâu thuẫn giữa vợ chồng bà L, ông T thì bà không rõ nhưng bà có nghe ông T nói là bà L ly hôn thì ông T đồng ý nhưng không đến Tòa án để thuận tình ly hôn mà để bà L tự đơn phương ly hôn. Giữa bà với bà L và gia đình của bà L không có mâu thuẫn. Sau khi vợ chồng bà L, ông T kết hôn thì về sống chung với bà, hai con chung của bà L, ông T do bà H chăm sóc để vợ chồng bà L, ông T đi làm, từ khi vợ chồng bà L1, ông T ly hôn thì bà L vẫn tới lui thăm con và để bà H chăm sóc hai cháu.
Xét thấy, con chung Phạm Văn T1, sinh ngày 19/01/2019 đang sống với ông T do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho con chung, giúp con chung phát triển tốt về thể chất, tinh thần, giao cháu Phạm Văn T1, sinh ngày 19/01/2019 cho ông T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Tại biên bản ghi nhận ý kiến của con chưa thành niên ngày 26/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, cháu Phạm Thị Ngọc B có nguyện vọng sống với mẹ nên để đảm bảo ổn định cuộc sống cho con chung, giúp con chung phát triển tốt về thể chất, tinh thần, giao cháu Phạm Thị Ngọc B cho bà L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[2.3] Về quan hệ tài sản chung, nợ chung:
bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập giải quyết.
[2.4] Về án phí sơ thẩm:
căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Ông T không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thúy L.
- Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị Thúy L được ly hôn với ông ông Phạm Văn T.
- Về quan hệ con chung:
Bà Nguyễn Thị Thúy L được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Phạm Thị Ngọc B sinh ngày 28/01/2014, ông Phạm Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà Nguyễn Thị Thúy L cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Phạm Văn T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Ông Phạm Văn T được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Phạm Văn T1, sinh ngày 19/01/2019, bà Nguyễn Thị Thúy L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Phạm Văn T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở bà Nguyễn Thị Thúy L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
- Về án phí sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Thúy L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0023364 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 14 tháng 10 năm 2024.
Ông Phạm Văn T không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của các đương sự vắng mặt được tính là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tuyền |
Bản án số 67/2025/HN-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 67/2025/HN-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 18 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 770/2024/TLST-HN ngày 15 tháng 11 năm 2024 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2025/QĐXXST-HN ngày 05 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Thúy L, sinh năm 1994, cư trú: ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; địa chỉ liên lạc: số C, ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (có mặt). 2. Bị đơn: ông Phạm Văn T, sinh năm 1992, cư trú: ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
