TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 67/2025/HNGĐ-ST
Ngày 17/3/2025
“V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Đình Đạt
Ông Nguyễn Văn Thủy
- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa:
Bà Ngô Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 17/3/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 355/2024/TLST-HNGĐ ngày 16/12/2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13/01/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2025/QĐST-HNGĐ ngày 14/02/2025 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Dương Thị P, sinh năm 1985 (xin vắng mặt)
HKTT: thôn V, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang
Nơi ở hiện nay: Số C đường F, quận T, thành phố Đ, Đài Loan.
Người đại diện nhận văn bản tố tụng của chị P: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1963; địa chỉ: thôn D, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang
* Bị đơn: Anh Giáp Văn T, sinh năm 1984 (vắng mặt)
Địa chỉ cư trú cuối cùng của anh T tại Việt Nam: thôn V, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Anh T hiện đang ở nước ngoài không rõ địa chỉ.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1963 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: thôn D, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai chị Dương Thị Phương trình B:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Giáp Văn T kết hôn với nhau ngày 16/3/2012, việc kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện L. Năm 2020 chị đi lao động tại Đài Loan, sau đó giữa vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng ít khi liên lạc với nhau. Đến năm 2022 anh T cũng đi lao động Đài Loan nhưng vợ chồng không chung sống cùng nhau bên Đài Loan. Đến nay giữa chị và anh T đã không còn liên lạc với nhau nữa. Chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh Giáp Văn T được ly hôn.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Dương Thị Quỳnh A, sinh ngày 19/01/2013. Trước đây cháu Quỳnh A ở cùng bà nội nhưng vừa qua khi chị về Việt Nam thì chị đã đón cháu Quỳnh A lên ở cùng chị tại nhà mẹ đẻ. Khi ly hôn chị đề nghị Tòa án giao cháu Quỳnh A cho chị nuôi dưỡng. Do sắp tới chị lại tiếp tục sang Đài Loan làm việc nên đề nghị Tòa án tạm giao cháu Quỳnh A cho bà Nguyễn Thị L nuôi dưỡng trong thời gian chị ở nước ngoài. Về cấp dưỡng nuôi con: không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ chung: không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Bị đơn là anh Giáp Văn T hiện đang lao động ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng đối với anh T đến nay không nhận được thông tin của anh T.
Tòa án đã xác minh thu thập chứng cứ thông qua mẹ đẻ của anh T là bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1949; địa chỉ: thôn V, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang, bà có ý kiến trình bày như sau: bà là mẹ đẻ của anh Giáp Văn T, anh T hiện đang lao động tại nước ngoài. Bà vẫn thường xuyên liên hệ với anh T qua điện thoại nhưng không biết địa chỉ của anh T ở nước ngoài. Bà đã thông báo cho anh T về việc chị P đề nghị ly hôn thì anh T có ý kiến đồng ý ly hôn.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L trình bày:
Bà là mẹ đẻ của chị Dương Thị P. Hiện nay chị P đi nước ngoài làm việc nên cháu Quỳnh A đang sinh sống cùng bà. Chị P có đề nghị Tòa án giao cháu Quỳnh A cho chị P nuôi dưỡng. Bà đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của chị P, giao cháu Quỳnh A cho chị P nuôi dưỡng. Đồng thời bà đồng ý và đề nghị Tòa án tạm giao cháu Quỳnh A cho bà chăm sóc nuôi dưỡng trong thời gian chị P ở nước ngoài. Về việc cấp dưỡng nuôi các cháu gia đình sẽ tự thống nhất nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Cháu Dương Thị Quỳnh A trình bày hiện nay đang ở cùng bà ngoại. Nếu bố mẹ ly hôn các cháu có nguyện vọng được tiếp tục ở với mẹ và bà ngoại.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, chị P và bà L xin vắng mặt. Anh T vắng mặt không có lý do và không có quan điểm gì trình bày. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị P. Xử: Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị P được ly hôn anh Giáp Văn T. Về con chung: Giao cháu Dương Thị Quỳnh A cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng nhưng tạm giao cho bà Nguyễn Thị L nuôi dưỡng trong thời gian chị P ở nước ngoài. Về việc cấp dưỡng không đặt ra xem xét giải quyết. Về tài sản chung và công nợ chung không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí: chị Dương Thị P phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Dương Thị P có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, trách nhiệm nuôi con chung với anh Giáp Văn T. Bị đơn anh Giáp Văn T có hộ khẩu tại tỉnh Bắc Giang và hiện đang nước ngoài không có địa chỉ cụ thể. Căn cứ công văn số: 3219/QLXNC ngày 21/02/2025 của Cục Q - Bộ C thì anh Giáp Văn T đã xuất cảnh ngày 20/7/2024, chị Dương Thị P đã xuất cảnh ngày 18/12/2024, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa chị P và bà L có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Tòa án đã làm việc với bà Nguyễn Thị T1 là mẹ đẻ của anh T xác định hiện anh T đang ở nước ngoài nhưng bà không biết địa chỉ cụ thể của anh T ở nước ngoài để cung cấp cho Tòa án. Tòa án đã niêm yết tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho anh T theo quy định tại khoản 5 Điều 177; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự. HĐXX thấy việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng quá trình giải quyết vụ án. Do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[3]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị P và anh Giáp Văn T kết hôn với nhau ngày 16/3/2012 tại UBND xã Đ, huyện L, việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn chị P xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn với anh T. Xem xét đơn khởi kiện của chị P, HĐXX thấy: Đến nay chị P và anh T đã không còn quan tâm gì nhau và không còn liên lạc với nhau nữa. Anh T và chị P đã sống ly thân và chị P xác định không còn tình cảm. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị P và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị P, xử cho chị P được ly hôn với anh T.
[4]. Về con chung: Chị P và anh T có 01 con chung là cháu Dương Thị Quỳnh A, sinh ngày 19/01/2013, hiện nay Quỳnh A đang ở cùng bà ngoại là Nguyễn Thị L. Chị P có ý kiến trình bày đề nghị giao cháu Quỳnh A cho chị nuôi dưỡng. Bà L đồng ý nuôi dưỡng cháu Quỳnh A thay chị P. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi của con chung cần áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cho chị P được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Quỳnh A nhưng tạm giao cho bà L nuôi dưỡng trong thời gian chị P ở nước ngoài. Về cấp dưỡng nuôi con các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[5]. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (công nợ): Chị P không đề nghị nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.
[6]. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị Dương Thị P phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.
[7]. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 7 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 238; Điều 271; Điều 273, khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị P.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị P được ly hôn anh Giáp Văn T.
2. Về con chung: Giao cháu Dương Thị Quỳnh A, sinh ngày 19/01/2013 cho chị Dương Thị P trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi nhưng tạm giao cho bà Nguyễn Thị L chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị P về nước sinh sống hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Về việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết.
Sau khi ly hôn, anh T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
3. Về án phí: Chị Dương Thị P phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000285 ngày 16/12/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
4. Về quyền kháng cáo:
- Anh Giáp Văn T và chị Dương Thị P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Bà Nguyễn Thị L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Hải Hường |
Bản án số 67/2025/HNGĐ-ST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 67/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phương ly hôn Tâm
