Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN VĂN THỜI

TỈNH CÀ MAU

Bản án số: 67/2025/DS-ST

Ngày 24 - 02 - 2025

V/v Tranh chấp hụi

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Huỳnh Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Trường.

Ông Văn Công Trọn.

- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Thêu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời tham gia phiên tòa: Ông Lâm Chí Cường – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 844/2024/TLST-DS ngày 08/10/2024 về việc “Tranh chấp hụi”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-DS ngày 07/01/2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Hồng T, sinh năm 1975.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Út D, sinh năm 1976.

Bà Lê Thị L, sinh năm 1977.

Cùng địa chỉ: Ấp A, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên toà không rõ lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 25/9/2024, lời trình bày của nguyên đơn có tại hồ sơ và tại phiên toà, thể hiện: Giữa nguyên đơn và bị đơn có tham gia giao dịch hụi với nhau ở 09 dây hụi, quá trình khui hụi thì có chốt nợ hụi với nhau, bị đơn còn nợ nguyên đơn tổng số tiền hụi, cụ thể: Dây hụi khui ngày 08/03/2022 (Ngày 06/02/2022 âm lịch), loại hụi 2.000.000 đồng, 01 tháng khui 01 lần, hụi này gồm 23 chưng hụi. Nợ 49.025.000 đồng; Dây hụi khui ngày 18/6/2022 (Ngày 20/5/2022 âm lịch), loại hụi 2.000.000 đồng, 01 tháng khui 01 lần, hụi này gồm 24 ch ưng hụi. Nợ 154.000.000 đồng; Dây hụi khui ngày 22/08/2022 (Ngày 25/7/2022 âm lịch), loại hụi 5.000.000 đồng, 01 tháng khui 01 lần, hụi này gồm 21 chưng hụi. Nợ 81.675.000 đồng; Dây hụi khui ngày 06/02/2022 (Ngày 06/01/2022 âm lịch), loại hụi 5.000.000 đồng, 01 tháng khui 01 lần, hụi này gồm 21 chưng hụi. Nợ 33.750.000 đồng; Dây hụi khui ngày 12/3/2022 (Ngày 10/02/2022 âm lịch), loại hụi 5.000.000 đồng, 01 tháng khui 01 lần, hụi này gồm 21 chưng hụi. Nợ 97.500.000 đồng; Dây hụi khui ngày 18/6/2022 (Ngày 20/5/2022 âm lịch), loại hụi 5.000.000 đồng, 01 tháng khui 01 lần, hụi này gồm 21 chưng hụi. Nợ 168.750.000 đồng; Dây hụi khui ngày 06/3/2023 (Ngày 15/02/2023 âm lịch), loại hụi 5.000.000 đồng, 01 tháng khui 01 lần, hụi này gồm 21 chưng hụi. Nợ 210.000.000 đồng; Dây hụi khui ngày 25/10/2020 (Ngày 09/9/2020 âm lịch), loại hụi 5.000.000 đồng, 01 năm khui 04 lần, hụi này gồm 11 chưng hụi. Nợ 93.750.000 đồng; Dây hụi khui ngày 26/8/2022 (Ngày 29/7/2022 âm lịch), loại hụi 5.000.000 đồng, 01 năm khui 04 lần, hụi này gồm 12 chưng hụi. Nợ 166.250.000 đồng.

Ngày 28/12/2023 (Ngày 16/11/2023 âm lịch), nguyên đơn liên hệ gặp trực tiếp bà L để chốt nợ và bà L đã thừa nhận và ký giấy nợ chốt 02 khoản nợ: 1.054.700.000 đồng (Trong đó: Nợ hụi tháng 794.700.000 đồng, nợ hụi mùa 260.000.000 đồng). Sau khi chốt nợ thì bị đơn không thực hiện thanh toán cho nguyên đơn bất kỳ khoản tiền nào, từ đó phát sinh tranh chấp.

Nay yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn có trách nhiệm liên đới trả số tiền là 1.054.700.000 đồng.

- Lời trình bày của bị đơn ông Nguyễn Út D có tại hồ sơ, thể hiện: Ông D và bà L vợ chồng hợp pháp, hiện nay vợ chồng vẫn còn đang sống chung. Vợ chồng có tham gia chơi hụi với bà Nguyễn Hồng T thời gian dài, việc tham gia chơi hụi và trực tiếp giao dịch hụi là giữa bà L với bà T, ông biết việc vợ tham gia chơi hụi với bà T, nhưng cụ thể chi tiết loại hụi, số chưng hụi và việc đóng và hốt hụi thì không biết cụ thể (ông D thừa nhận có nhận tiền giao hụi từ bà T 01 lần và có chuyển tiền đóng hụi nhiều lần cho bà T nhưng không nhớ cụ thể), tiền hốt hụi thì vợ chồng dùng vào việc trả nợ là chính.

Quá trình tham gia chơi hụi thì vợ chồng có nợ tiền hụi chết của bà T, nhưng số tiền nợ cụ thể bao nhiêu không biết, sau khi mất khả năng thanh toán nợ thì vợ chồng bỏ lên tỉnh Đồng Nai làm ăn thì bà T lên đến nơi vợ chồng cư trú và yêu cầu ký xác nhận chốt nợ 02 khoản nợ là 1.054.700.000 đồng (Trong đó: Nợ hụi tháng 794.700.000 đồng, nợ hụi mùa 260.000.000 đồng), việc chốt nợ là bà T đưa giấy hụi đã tính toán sẵn yêu cầu bà L ký tên xác nhận, thời điểm ký nhận nợ thì bà L không có xem kỹ lại nội dung giấy tính hụi (Ông D xác định việc ký là ép buộc ký), ông D đã xem qua giấy tính hụi do bà T cung cấp (ông D xác định chữ ký và viết họ tên đúng là của bà L).

Nay yêu cầu Toà án cung cấp cho ông D đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo để ông D về đưa cho bà L xem xét và đối chiếu lại, rồi sẽ gửi văn bản có ý kiến về cho Toà án sau. Trường hợp bà L thống nhất số nợ bao nhiêu thì ông D đồng ý cùng bà L có trách nhiệm trả nợ cho bà T.

- Đối với bị đơn bà Lê Thị L: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, và hai lần để xét xử, nhưng đều vắng mặt không rõ lý do, nên không ghi nhận được ý kiến; đồng thời cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì để phản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên phát biểu:

Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tiến hành và thực hiện đúng theo quy định. Đối với bị đơn vắng mặt không có lý do trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa không có lý do đã không chấp hành đúng nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn có trách nhiệm trả cho nguyên đơn tổng số tiền hụi 1.054.700.000 đồng. Án phí buộc bị đơn phải chịu theo quy định.

Từ những nội dung vụ án thể hiện;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục: Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử, nhưng vắng mặt không rõ lý do, nên căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán tiền hụi và bị đơn có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Cà Mau nên Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết vụ án dân sự “Tranh chấp hụi” là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.

[3] Về nội dung tranh chấp và xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ý kiến của bị đơn: Nguyên đơn xác định gày 28/12/2023 (Ngày 16/11/2023 âm lịch) đã gặp trực tiếp bà L để chốt nợ và bà L đã thừa nhận và ký giấy nợ chốt 02 khoản nợ (Bút lục số 10, 11); bị đơn ông D xác định nguyên đơn có gặp bà L để chốt nợ và đưa giấy hụi đã tính toán sẵn yêu cầu bà L ký tên xác nhận, ông D xác định chữ ký và viết họ tên tại các giấy nhận nợ (Bút lục số 10, 11) do nguyên đơn cung cấp là của bà L (nhưng cho rằng việc ký là do không xem kỹ nội dung và bị ép buộc). Xét thấy:

[3.1] Quá trình giải quyết vụ án Toà án đã cung cấp đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp theo yêu cầu của ông D, nhưng kể từ thời điểm ông D nhận được các tài liệu, chứng cứ cho đến nay không nhận được bất kỳ ý kiến hay tài liệu, chứng cứ nào của bị đơn về việc phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nên không có căn cứ để xác định việc chốt nợ là ý chí không tự nguyện của bà L.

[3.2] Ngoài ra, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ (Bút lục số 75, 85) là đoạn ghi âm có thời lượng 07 phút 19 giây thì xác định được bà L có thừa nhận các khoản nêu trên bà T đã tính toán là đúng.

[3.3] Như vậy, có cơ sở xác định thực tế bị đơn còn nợ nguyên đơn tổng số tiền 1.054.700.000 đồng và nghĩa vụ của bị đơn phát sinh từ giao dịch của vợ chồng cùng xác lập, nên cần buộc bị đơn phải có trách nhiệm liên đới cho nguyên đơn là đúng theo quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự (BLDS); Điều 23 Nghị định số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường (Nghị định số: 19);

Từ những lập luận, phân tích, đánh giá chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[4] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm có giá ngạch đối với tổng số tiền theo yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận theo quy định tại Điều 147 BLTTDS; điểm b khoản 1 và khoản 3 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án (Nghị quyết số: 326). Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên không phải chịu án phí, số tiền tạm ứng án phí nguyên đơn đã dự nộp trước được hoàn lại toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 BLTTDS; Điều 471 BLDS; Điều 23 Nghị định số: 19; điểm b khoản 1 và khoản 3 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326.

1. Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Hồng T.

Buộc bị đơn bà Lê Thị L và ông Nguyễn Út D có trách nhiệm liên đới trả cho bà Nguyễn Hồng T tổng số tiền hụi 1.054.700.000 đồng.

Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án mà bị đơn chậm thực hiện nghĩa vụ trả khoản tiền nói trên, thì hàng tháng bị đơn còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với khoản tiền nói trên tương ứng với thời gian chậm trả.

2. Án phí sơ thẩm dân sự có giá ngạch:

- Buộc bà Lê Thị L và ông Nguyễn Út D phải nộp là 43.641.000 đồng (Chưa nộp).

- Nguyên đơn bà Nguyễn Hồng T đã dự nộp tiền tạm ứng án phí trước với số tiền là 21.821.000 đồng theo biên lai thu số: 0005613 ngày 01/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được hoàn lại toàn bộ.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Cà Mau (gửi mail);
  • - VKSND huyện Trần Văn Thời;
  • - Chi cục THADS huyện Trần Văn Thời;
  • - Đương sự, NTGTT khác;
  • - Lưu HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trương Huỳnh Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2025/DS-ST ngày 24/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau về tranh chấp hụi

  • Số bản án: 67/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn trả nợ hụi
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger