Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 67/2025/DSST

Ngày: 21-02-2025

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Huệ

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Phạm Nguyễn Anh Tuấn
  2. Bà Nguyễn Thị Lý

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thảo Nguyên là Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2025 tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1272/2024/TLST-DS ngày 05 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp Hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 690/2024/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2025/QĐST-DS ngày 22 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty T1 (VIỆT NAM); địa chỉ: I P, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông LEE YUN HYOUNG

Bên nhận ủy quyền: Công ty L; địa chỉ: P, tầng D, Tòa nhà số G T, Phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Phước Quỳnh G, sinh năm 2001; địa chỉ: P, tầng D, Tòa nhà số G T, Phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy ủy quyền lập ngày 20/10/2024). (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Bà Đỗ Thị Thanh T, sinh năm: 1986; địa chỉ: Số A đường D, Phường E, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 14/3/2024 và bản tự khai, đại diện nguyên đơn trình bày:

Ngày 10/11/2022, Công ty T1 (VIỆT NAM) (sau đây gọi tắt là Công ty T1) ký Hợp đồng tín dụng số: 3915285 (sau đây gọi tắt là Hợp đồng tín dụng) về việc cấp tín dụng cho bà Đỗ Thị Thanh T với khoản vay trị giá 32.310.000 đồng. Sau khi ký kết, Công ty T1 đã giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho bà Đỗ Thị Thanh T. Theo Hợp đồng tín dụng, bà Đỗ Thị Thanh T có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng với số tiền là 1.708.322 đồng trong kỳ hạn 36 tháng kể từ ngày 10/12/2022 đến ngày 10/11/2025.

Sau khi được giải ngân, bà Đỗ Thị Thanh T đã thanh toán được 4 kỳ với số tiền là 6.920.644 đồng vào các ngày 10/12/2022, 13/01/2023, 23/03/2023, 19/04/2023 (Trong đó gốc: 1.896.569 đồng; Lãi: 5.000.075 đồng; Phí: 24.000 đồng). Tuy nhiên, từ ngày 20/04/2023 bà Đỗ Thị Thanh T đã không thanh toán theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay mà phía Công ty T1 đã giải ngân. Do bà Đỗ Thị Thanh T không thực hiện thanh toán kỳ thứ 3 vào ngày 10/02/2023 nên các kỳ đóng vào tháng 3 và tháng 4 sẽ được tính vào kỳ vào ngày 10/02/2023 và 10/03/2023 do đó ngày chuyển nợ quá hạn là ngày 10/04/2023.

Công ty T1 đã gởi thông báo nhắc nợ nhưng bà Đỗ Thị Thanh T vẫn cố tình không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Công ty T1.

Do đó, Công ty T1 khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân quận Gò Vấp giải quyết:

Buộc bà Đỗ Thị Thanh T thanh toán toàn bộ khoản vay cho Công ty T1 tổng số tiền tạm tính đến ngày 21/02/2025 là 64.509.135 đồng, trong đó nợ gốc là: 30.413.431 đồng, nợ lãi trong hạn là: 21.543.749 đồng, nợ lãi quá hạn là: 10.247.485 đồng, lãi chậm trả là: 2.304.470 đồng. Đồng thời, thanh toán khoản lãi, phí phát sinh từ ngày 22/02/2025 cho đến khi hoàn tất các khoản nợ nêu trên theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Bị đơn: Bà Đỗ Thị Thanh T mặc dù đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập đến tòa lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà T không đến nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bà T về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử có mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp. Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xác định quan hệ tranh chấp, tư cách tố tụng, thu thập chứng cứ, thủ tục phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cũng như việc gửi Quyết định đưa vụ án ra xét xử và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử vụ án.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70 và 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70 và 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Căn cứ đơn khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp có căn cứ xác định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kện của nguyên đơn và bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Công ty T1 (VIỆT NAM) (sau đây gọi tắt là Công ty T1) khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán tiền nợ gốc và nợ lãi theo Hợp đồng tín dụng, đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Bị đơn cư trú tại quận G nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân quận G theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Về sự vắng mặt của các đương sự: Đại diện nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bà T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa, bà T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không có lời khai và các tài liệu, chứng cứ giao nộp cho Tòa án để thể hiện sự phản đối yêu cầu của nguyên đơn. Như vậy, bà T đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình nên phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử căn cứ các chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp để xem xét giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng số 3915285 ngày 10/11/2022 được ký giữa Công ty T1 và bà Đỗ Thị Thanh T có cơ sở để xác định giữa bà T và Công ty T1 có xác lập giao dịch tín dụng, theo đó Công ty T1 cấp tín dụng cho bà T vay số tiền 32.310.000 đồng, lãi suất 48%/năm. Công ty T1 đã giải ngân đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho bà T, số tiền giải ngân được chuyển vào tài khoản cá nhân của bà T.

Việc xác lập giao dịch tín dụng giữa Công ty T1 và bà T là phù hợp theo quy định tại Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

Theo quy định của Bản đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng tại Phần B, Mục 3 về Thông tin khoản vay thì bà T có nghĩa vụ thanh toán trả góp hàng tháng cho Công ty T1 với số tiền là 1.720.322 đồng trong kỳ hạn 36 tháng, kể từ ngày 10/12/2022 đến ngày 10/11/2025 nhưng từ khi được giải ngân, bà T chỉ thanh toán được cho Công ty T1 được 04 kỳ với số tiền 6.920.644 đồng rồi ngưng không thanh toán nữa. Như vậy bà T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận tại hợp đồng và Công ty T1 đã chuyển nợ quá hạn từ ngày 10/4/2023 là phù hợp với quy định tại Phần B, Mục 8.3 về Trả nợ trễ hạn của Bản đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng.

Do đó Công ty T1 khởi kiện yêu cầu bà T thanh toán số tiền nợ tính đến ngày 21/02/2025 là 64.509.135 đồng; trong đó nợ gốc là: 30.413.431 đồng, tiền lãi trong hạn là: 21.543.749 đồng, tiền lãi quá hạn là: 10.247.485 đồng, tiền lãi chậm trả là: 2.304.470 đồng là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015.

Về thời hạn thanh toán: Do bà T vi phạm nghĩa vụ thanh toán làm thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử nghĩ cần buộc bà T phải trả số tiền trên cho nguyên đơn làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 22/02/2025 bà T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Công ty T1 cho vay thì lãi suất mà bà T phải tiếp tục phải thanh toán cho Công ty T1 cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Công ty T1 cho vay.

[3] Về án phí:

Căn cứ quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.225.457 đồng.

Hoàn tiền tạm nộp án phí cho nguyên đơn.

[4] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 và khoản 4 Điều 91, khoản 2 Điều 92, Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91, Điều 95 và Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014); Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

    Buộc bà Đỗ Thị Thanh T phải có trách nhiệm trả cho Công ty T1 (VIỆT NAM) số tiền nợ tính đến ngày 21/02/2025 là 64.509.135 đồng, trong đó nợ gốc là: 30.413.431 đồng, tiền lãi trong hạn là: 21.543.749 đồng, tiền lãi quá hạn là: 10.247.485 đồng, tiền lãi chậm trả là: 2.304.470 đồng. Trả làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    Kể từ ngày 22/02/2025 bà T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bà T phải tiếp tục phải thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

    Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 3.225.457 đồng bà Đỗ Thị Thanh T phải chịu.

    Hoàn tiền tạm nộp án phí cho Công ty T1 (VIỆT NAM) là 1.094.000 đồng (Một triệu không trăm chín mươi bốn ngàn đồng) theo biên lai thu số 0023683 ngày 02/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
  4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo các quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp;
  • - Lưu hồ sơ việc dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2025/DSST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 67/2025/DSST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger