|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA TỈNH PHÚ YÊN Bản án số: 67/2024/HNGĐ-ST Ngày: 04-12-2024 V/v: “Tranh chấp về ly hôn”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Hữu Duyên;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Bá Tòng.
- Ông Nguyễn Đăng Đúng.
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thanh Thái – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: ông Lê Ngọc Phong – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 18/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2024, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 47/2024/QÐST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: chị Trương Trần Thị Tuyết N, sinh năm 1993: khu phố T, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: anh Đàm Đức T, sinh năm 1990: khu phố T, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 18/01/2024, tài liệu có tại hồ sơ và tại phiên toà nguyên đơn chị Trương Trần Thị Tuyết N trình bày:
- Về hôn nhân: chị (Nữ) và anh Đàm Đức T tự nguyện tìm hiểu từ năm 2008, đi đến hôn nhân và đăng ký kết hôn tại UBND xã (nay là phường) Hòa Xuân T1, thị xã Đ theo giấy chứng nhận kết hôn số 76, cấp ngày 16/9/2010. Sau thời gian chung sống hạnh phúc, thì đến khoảng năm 2020 vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân anh T hay cờ bạc, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã; hai vợ chồng chị đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không thành; chị và anh T đã sống ly thân cách đây 03 năm. Nay, chị N nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa chị N và anh T không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể tiếp tục chung sống vợ chồng nên chị N yêu cầu được ly hôn anh T.
- Về con chung: có 01 con chung tên Đàm Thị Quỳnh T2 (sinh ngày 21/01/2009), hiện nay đang ở với chị Trương Trần Thị Tuyết N; chị N yêu cầu tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung; không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về nợ chung: không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Theo các tài liệu có tại hồ sơ, bị đơn Đàm Đức T trình bày: Trong năm 2008, anh T và chị N quen biết nhau, cả hai tự nguyện nảy sinh tình cảm và có một con chung tên Đàm Thị Quỳnh T2 (sinh ngày 21/01/2009). Sau khi sinh con, cả hai gia đình mới biết và sau đó anh T và chị N tiến hành đăng ký kết hôn vào ngày 16/9/2010. Hiện nay, anh T và chị N đang chờ thủ tục giải quyết ly hôn.
Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu ly hôn anh Đàm Đức T; yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con; không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đảm bảo cho đương sự thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ. Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng văng mặt không có lý do nên phải chịu hậu quả pháp lý về sự vắng mặt của mình.
Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Trần Thị Tuyết N. Về quan hệ hôn nhân cho chị Trương Trần Thị Tuyết N được ly hôn anh Đàm Đức T; về con chung: giao con chung Đàm Thị Quỳnh T2 (sinh ngày 21/01/2009) cho chị Trương Trần Thị Tuyết N tiếp tục nuôi dưỡng; Anh Đàm Đức T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Khi điều kiện thay đổi và cần thiết, các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung. Về cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và nợ: không xem xét giải quyết. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của các bên đương sự; Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Ngày 09/4/2024, Toà án nhân dân thị xã Đông Hoà chuyển vụ án để xem xét hành vi của Đàm Đức T giao cấu với chị Trương Trần Thị Tuyết N khi chị N chưa đủ 16 tuổi, hậu quả có con chung. Ngày 22/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ ban hành Quyết định không khởi tố vụ án hình sự đối với vụ Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi vì hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự (thời hạn đã quá 15 năm). Vụ án không có dấu hiệu hình sự, do đó, căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa.
[1.2] Nguyên đơn chị Trần Thị Tuyết N có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Đàm Đức T đã được tống đạt hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ các Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: chị Trương Trần Thị Tuyết N và anh Đàm Đức T tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên theo giấy chứng nhận kết hôn số 76 cấp ngày 16/9/2010, là hôn nhân hợp pháp.
Tại Biên bản xác minh tình trạng đời sống hôn nhân giữa anh T và chị N ngày 15/10/2024,, địa phương cung cấp: “...hiên nay chị N và anh T không còn sống chung với nhau tại địa phương”. Xét thấy, cuộc sống hôn nhân giữa chị N với anh T đã rạn nứt trầm trọng, anh T cờ bạc nên hai bên tự sống ly thân một thời gian dài; quá trình giải quyết tại toà, anh T vắng mặt không quan tâm để được hoà giải hàn gắn. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Trương Trần Thị Tuyết N được ly hôn anh Đàm Đức T, để đảm bảo các bên ổn định cuộc sống riêng.
[2.2] Về con chung: chị Trương Trần Thị Tuyết N và anh Đàm Đức T có 01 con chung tên Đàm Thị Quỳnh T2 (sinh ngày 21/01/2009); chị N đang là người trực tiếp nuôi dưỡng; chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu T2, anh T không tranh chấp về quyền nuôi con. Do đó, giao cháu T2 cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng để đảm bảo sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần cho cháu T2.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: chị Trương Trần Thị Tuyết N không yêu cầu anh Đàm Đức T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, chị N có sức khoẻ, có việc làm và tự nguyện không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
Anh Đàm Đức T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Khi điều kiện thay đổi và cần thiết, các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung.
[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn và bị đơn không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét.
[3] Về án phí: chị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Trần Thị Tuyết N.
- Về quan hệ hôn nhân: chị Trương Trần Thị Tuyết N được ly hôn anh Đàm Đức T.
- Về con chung: giao cháu Đàm Thị Quỳnh T2 (sinh ngày 21/01/2009) cho chị Trương Trần Thị Tuyết N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
-
Về cấp dưỡng nuôi con: không xem xét giải quyết.
Anh Đàm Đức T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: không xem xét giải quyết.
- Về án phí: chị Trương Trần Thị Tuyết N phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn, được khấu trừ 300.000đ đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai số 001135 ngày 23/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên (đã nộp đủ).
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Duyên |
4
Bản án số 67/2024/HNGĐ-ST ngày 04/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp về ly hôn
- Số bản án: 67/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn
