TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 67/2024/HS-ST
Ngày: 02 – 12 – 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Lê Duy Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Thanh Minh Hiền
2/ Bà Đào Văn Hiến
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Jét - Cán bộ Tòa án huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Tiến Sang - Kiểm sát viên.
Ngày 02/12/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 73/2024/TLST - HS, ngày 13 tháng 11 năm 2024; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2024/QĐXXST - HS, ngày 19 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên Hà Lê H, sinh năm 1953; nơi cư trú Ấp C, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp chạy xe ôm; trình độ học vấn 3/12; dân tộc kinh; giới tính nam; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Hà Văn S (đã chết), con bà Lưu Thị H1 (đã chết); vợ Nguyễn Thị H2, sinh năm 1963, con có 04 người con (con lớn nhất sinh năm 1984, con nhỏ nhất sinh năm 1991); tiền án không, tiền sự không, tạm giữ không, tạm giam không. Bị cáo H đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại: Nguyễn Văn H3 (đã chết).
Đại diện theo pháp luật của bị hại Nguyễn Văn H3:
- - Bà Thái Thị Ngọc T, sinh năm 1991 (vợ ông H3).
- - Cụ ông Nguyễn Văn H4, sinh năm 1949 (cha ruột ông H3).
- Cùng địa chỉ: Ấp C, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- - Chị Nguyễn Thị Minh T1, sinh năm 2003 (con của ông H3).
- Địa chỉ: Khu công nghiệp S, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
2
* Người làm chứng:
- - Bà Lê Thị N, sinh năm 1969.
- - Ông Nguyễn Văn S1, sinh năm 1970.
- - Chị Nguyễn Thị Ngọc N1, sinh năm 2003.
- Cùng địa chỉ: ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Hà Lê H có giấy phép lái xe hạng A1 do Sở Giao thông - Vận tải tỉnh T cấp ngày 22/4/2004 và hành nghề chạy xe ôm. Khoảng 14 giờ ngày 27/7/2024, bị cáo Hồng điều K xe mô tô biển số 63B1-732.46 lưu thông trên tuyến đường nông thôn theo hướng từ xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang đến thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp để rước khách.
Khi đến đoạn đường thuộc ấp M, xã P, huyện T, bị cáo H quan sát thấy phía trước cách khoảng 20m có ông Nguyễn Văn H3 đang đi bộ từ lề phải sang lề trái theo hướng di chuyển của bị cáo.
Lúc này, bị cáo H không nhường đường mà bấm còi báo hiệu và điều khiển xe lấn sang phần đường bên trái để tránh ông H3. Khi ông H3 đã đi qua được phần đường bên trái thì bị phần đầu bên phải xe mô tô do bị cáo Hồng điều K đụng trúng vào vùng hông bên trái làm ông H3 ngã xuống đường. Hậu quả ông H3 bị chấn thương vùng đầu, được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Chợ Rẫy thành phố H, đến ngày 28/7/2024 ông H3 tử vong.
Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường xảy ra vụ tai nạn thuộc ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Hiện trường là đoạn đường thẳng, tâm nhìn không bị hạn chế, mặt đường rộng 5,5m, trải bê tông nhựa bằng phẳng và có vạch kẻ đứt nét màu vàng chia mặt đường ra làm hai chiều xe chạy. Chọn mép đường bên phải theo hướng từ xã P, huyện T đi xã M, huyện T làm lề chuẩn và lấy trụ điện số 473TM làm mốc cố định. Ghi nhận các dấu vết cày (ký hiệu số 1) có chiều dài 0,45m, đầu vết cày đo vào lề chuẩn là 4,4m, cuối vết cày đo vào lề chuẩn là 4,3m, cuối vết cày đo đến tâm trục sau bánh xe mô tô biển số 63B1-732.46 (ký hiệu số 2) là 2,1m; vị trí xe mô tô biển số 63B1-732.46 ngã bên trái cặp lề đường theo hướng xã P đi xã M, đầu xe hướng về xã M, đuôi xe hướng về xã P, tâm trục bánh sau xe đo vào mép lề chuẩn là 4,7m, tâm trục bánh trước đo vào mép lề chuẩn là 5,5m.
Kết luận giám định số 1259/KL-KTHS ngày 16/9/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ kết luận: hệ thống dấu vết gãy vỡ, thụng chiều hướng từ trước về sau ở cụm đèn tín hiệu phía trước bên phải, yếm chắn gió bên phải của xe mô tô biển số 63B1-732.46 phù hợp với hệ thống dấu vết sây xát da không liên tục vùng hông bên trái của ông H3. Vị trí va chạm giữ xe mô tô biển số 63B1- 732.46 với ông H3 là phía trước vết cày (ký hiệu số 1) và thuộc phần đường bên trái theo hướng xã P, huyện T đi xã M, huyện T.
3
Kết luận giám định tử thi số 115/KLGĐTT-TTPYĐT ngày 31/7/2024 của trung tâm pháp y Sở Y kết luận đối với tử thi Nguyễn Văn H3: chấn thương sọ não nặng, lao màng não, là nguyên nhân tử vong.
Kết luận giám định số 1075/KL-KTHS ngày 08/8/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ kết luận mẫu máu thu của ông Nguyễn Văn H3 không phát hiện thành phần cồn (Ethanol).
Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của bệnh viện Đ ngày 27/7/2024 đối với Hà Lê H, không phát hiện thành phần cồn.
Như vậy, nguyên nhân trực tiếp dẫn đến vụ tai nạn là do bị cáo Hồng điều khiển xe mô tô biển số 63B1-732.46 tham gia giao thông không nhường đường cho người đi bộ đang đi bộ qua đường (Vi phạm khoản 4 Điều 11 Luật Giao thông đường bộ) gây tai nạn, hậu quả làm ông H3 tử vong.
Về vật chứng, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tạm giữ:
Của bị cáo H: 01 xe mô tô biển số 63B1-732.46 nhãn hiệu Honda màu xanh xám, loại Future Fi; 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Hà Lê H do Sở giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 22/4/2004; một giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 075748, biển số đăng ký 63B1-732.46 do công an huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 04/11/2019.
- 01 quần vải ống dài màu nâu, mặt trước ống quần bên trái cách lưng quần 58cm có vết màu nâu đỏ kích thước 3x3cm, mặt trước đáy quần cách lưng quần 07cm có vết màu xanh và nâu đỏ kích thước 12x14cm là trang phục ông H3 mặc vào thời điểm xảy ra vụ tai nạn.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo H và người đại diện theo pháp luật của bị hại H3 là cụ ông Nguyễn Văn H4, bà Thái Thị Ngọc T và chị Nguyễn Thị Minh T1 (là cha, vợ và con của ông H3) đã thỏa thuận bồi thường xong số tiền 100.000.000 đồng, đã giao nhận tiền xong và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại Bản Cáo trạng số: 68/CT - VKSTM, ngày 12 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát huyện T, đã truy tố bị cáo H4 về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 2015).
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Đại diện Viện kiểm sát huyện T thực hiện quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội đã đưa ra những chứng cứ, lý lẽ kết tội đối với bị cáo. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, căn cứ nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Về tội danh: Căn cứ Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo H4 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- + Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s, o khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt:
4
Bị cáo H4 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Nhưng cho được hưởng án treo.
- + Về xử lý vật chứng:
- Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho bị cáo H4 gồm: 01 xe mô tô biển số 63B1-732.46 nhãn hiệu Honda màu xanh xám, loại Future Fi; 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Hà Lê H do Sở giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 22/4/2004; một giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 075748, biển số đăng ký 63B1-732.46 do công an huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 04/11/2019.
- Tịch thu tiêu hủy 01 quần vải ống dài màu nâu, mặt trước ống quần bên trái cách lưng quần 58cm có vết màu nâu đỏ kích thước 3x3cm, mặt trước đáy quần cách lưng quần 07cm có vết màu xanh và nâu đỏ kích thước 12x14cm.
- + Về dân sự: Đã xử lý xong.
Tại phần tranh luận:
Bị cáo không tranh luận với Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết lỗi, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, biên bản khám nghiệm hiện trường, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung:
[2] Tại phiên tòa, bị cáo H thừa nhận hành vi phạm tội được mô tả trong bản Cáo trạng số 68/CT – VKSTM, ngày 12 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười là đúng với hành vi phạm tội.
Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định pháp y và cùng với các chứng cứ khác đã được thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Bị cáo Hồng điều khiển xe đến đoạn đường thuộc ấp M, xã P, huyện T, bị
5
cáo H quan sát thấy phía trước cách khoảng 20m có ông Nguyễn Văn H3 đang đi bộ từ lề phải sang lề trái theo hướng di chuyển của bị cáo.
Lúc này, bị cáo H không nhường đường mà bấm còi báo hiệu và điều khiển xe lấn sang phần đường bên trái để tránh ông H3. Khi ông H3 đã đi qua được phần đường bên trái thì bị phần đầu bên phải xe mô tô do bị cáo Hồng điều K đụng trúng vào vùng hông bên trái làm ông H3 ngã xuống đường. Hậu quả ông H3 bị chấn thương vùng đầu, được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Chợ Rẫy thành phố H, đến ngày 28/7/2024 ông H3 tử vong.
[3] Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 như sau:
“Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;”
[4] Bị cáo có năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ và gây thiệt hại tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người khác. Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử tại phiên tòa hôm nay là cần thiết.
[5] Tại phiên tòa, bà Thái Thị Ngọc T là vợ bị hại H3 (chưa thực hiện đăng ký kết hôn) trình bày có 01 con chung với bị hại H3 tên Thái Thị Lan A, sinh ngày 11/8/2023. Bà T không yêu cầu bị cáo H trợ cấp cấp dưỡng nuôi cháu Lan A nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[7] Về tình tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường khắc phục hậu quả, bị cáo là người trên 70 tuổi, gia đình bị hại có đơn miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
[8] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười là có căn cứ.
Bị cáo H là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo H có nơi cư trú rõ ràng.
Bị cáo H đủ điều kiện để được áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo
6
hưởng án treo cũng đủ tác dụng để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo H cũng như vẫn đảm bảo công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung và việc cho bị cáo H hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
[9] Về án phí: Bị cáo H được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm do là người cao tuổi.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Hà Lê H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s, o khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Xử phạt: Bị cáo Hà Lê H 01 (một) năm tù. Nhưng cho bị cáo H hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án (ngày 02/12/2024).
Giao bị cáo Hà Lê H cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92, Điều 93 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
- Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Trả lại cho bị cáo H gồm: 01 xe mô tô biển số 63B1-732.46 nhãn hiệu Honda màu xanh xám, loại Future Fi; 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Hà Lê H do Sở giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 22/4/2004; một giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 075748, biển số đăng ký 63B1-732.46 do công an huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 04/11/2019.
Tịch thu tiêu hủy 01 quần vải ống dài màu nâu, mặt trước ống quần bên trái cách lưng quần 58cm có vết màu nâu đỏ kích thước 3x3cm, mặt trước đáy quần cách lưng quần 07cm có vết màu xanh và nâu đỏ kích thước 12x14cm.
Vật chứng hiện do Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Tháp Mười quản lý (Kèm theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/11/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tháp Mười).
7
- Về án phí:
Áp dụng Điều 12, Điều 23, Điều 26 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Hà Lê H không phải nộp án phí hình sự sơ thẩm do là người cao tuổi.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp bị hại có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng chị Minh T1 vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
- - VKSND Tỉnh, Huyện;
- - TAND Tỉnh;
- - Sở Tư pháp Tỉnh;
- - Nhà tạm giữ Công an Huyện;
- - Chi cục THADS Huyện;
- - Bị cáo, các đương sự;
- - Lưu: HSVA, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Lê Duy Khánh |
8
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Lê Duy K1 |
9
Bản án số 67/2024/HS-ST ngày 02/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự)
- Số bản án: 67/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hà Lê Hồng phạm tội
