TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 67/2024/HS-ST Ngày 13 tháng 11 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Diệu
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Trần Hoàng Bảy
Ông Nguyễn Văn Kịch
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Luyến, Thẩm tra viên chính của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Mỹ Tiên-Kiểm sát viên
Ngày 13 tháng 11 năm 2024, tại hai điểm cầu kết nối trực tuyến, điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng và điểm cầu thành phần tại Nhà Tạm giữ Công an huyện K, tỉnh Sóc Trăng, Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng mở phiên tòa xét xử công khai bằng hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 55/2024/TLST-HS, ngày 09 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2024/QĐXXST-HS, ngày 25 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ tên: Bùi Văn C;
Sinh ngày 08/10/1982; Nơi sinh: Huyện K, tỉnh Sóc Trăng;
Nơi cư trú và chỗ ở: ấp X, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng;
Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: Lớp 5/12;
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Bùi Văn C1 và bà Nguyễn Thị H;
Có vợ tên Phạm Thị Đạt E và 02 người con sinh năm 2004 và 2007;
Tiền sự: Không;
Tiền án: Không;
Bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác tại Nhà Tạm giữ Công an thành phố N, tỉnh Hậu Giang;
Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần của phiên tòa.
Người bào chữa: Ông Nguyễn Văn N, Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý và ông Nguyễn Phong V, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh S, bào chữa cho Bùi Văn C (ông N vắng mặt, ông V có mặt tại điểm cầu trung tâm)
Bị hại: Ông Nguyễn Văn B, địa chỉ: ấp M, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
Người tham gia tố tụng khác:
- Ông Lê Hoàng K, trú tại ấp M, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, là người làm chứng (vắng mặt).
- Bà Võ Thị H1, trú tại ấp A, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, là người làm chứng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào chiều ngày 25/5/2024, Bùi Văn C đi bộ đến Cầu Mỹ T thuộc ấp M, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, nhìn thấy ông Nguyễn Văn B đang giăng lưới bắt cá dưới sông, C đi đến xin nước uống và đứng trò chuyện với ông B, được khoảng 10 phút, C nói với ông B “lưới dính cá rồi kìa, cuốn đi” ông B nói “đợi nước đứng rồi cuốn lưới”. ông B và C tiếp tục nói chuyện với nhau khoảng 10 phút nữa thì ông B nói “để tao cuốn lưới về đi vườn” và ông B đi xuống sông cuốn lưới, khi ông B lội ra giữa sông thì C đi lại chiếc xe mô tô biển số 60X4-8513 của ông B đậu gần đó có gắn sẵn chìa khoá, C lên xe và khởi động máy điều khiển chạy đi. Ông B phát hiện C lấy xe chạy đi nhưng do lúc này ông B đang ở dưới sông nên không ngăn cản được, ông B truy hô đồng thời trình báo Cơ quan Công an vụ việc.
Đối với Bùi Văn C sau khi chiếm đoạt chiếc xe mô tô của ông B thì điều khiển xe đi đến chợ M, thuộc xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng để tìm chỗ bán xe thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện, mời về Cơ quan Công an làm việc; quá trình điều tra, Bùi Văn C đã thừa nhận hành vi của mình về việc chiếm đoạt chiếc xe mô tô của ông B như đã nêu trên.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 25 ngày 26/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện K kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda WaveRS màu đỏ đen, biển kiểm soát số 60X4-8513, đăng ký lần đầu ngày 07/12/2007, theo Thông tư số 23/2023/TT-BTC ngày 25/4/2023. Hội đồng định giá áp dụng giá trị còn lại theo Thông tư số 20/TT-BTC ngày 09/4/2019 là 20%; thành tiền là 3.300.000 đồng (16.500.000 đồng x 20%).
Trên cơ sở kết quả điều tra cùng những tài liệu, chứng cứ thu được, xét thấy hành vi của Bùi Văn C có đủ yếu tố cấu thành tội phạm, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Bùi Văn C về tội Công nhiên chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 172 của Bộ luật hình sự.
Cáo trạng số 62/CT-VKS-KS, ngày 07/10/2024 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng nhận định hành vi của Bùi Văn C thuộc trường hợp công khai chiếm đoạt tài sản là xe mô tô của người khác có giá trị là 3.300.000 đồng nên phạm vào tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” và quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng để xét xử Bùi Văn C về tội này theo khoản 1 Điều 172 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố theo bản Cáo trạng; đồng thời phân tích, đánh giá tính chất, mức độ, động cơ phạm tội của bị cáo, cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 172, Điều 38, điểm i, s, h khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Bùi Văn C, xử phạt bị cáo với mức án từ 06 tháng đến 01 năm tù; Về trách nhiệm dân sự bị hại ông Nguyễn Văn B đã được nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét.
Trong phần tranh luận, bị cáo và người bào chữa cho bị cáo có ý kiến đồng tình với việc truy tố và xét xử bị cáo về tội danh “Công nhiên chiếm đoạt tài sản”, thống nhất với lời luận tội cũng như mức hình phạt đề xuất của Kiểm sát viên, nhưng có đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến thực tế hoàn cảnh của bị cáo gia đình khó khăn, việc học hành của bị cáo chưa đến nơi đến chốn; mặt khác tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại đã được trao trả và bị hại không có yêu cầu bồi thường về trách nhiệm dân sự, bị cáo đã thành khẩn khai báo, để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và áp dụng mức thấp nhất của khung hình phạt.
Lời nói sau cùng của bị cáo là đã thấy được việc làm của mình khi thực hiện các hành vi đã được phân tích tại phiên tòa là vi phạm pháp luật và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Tại phiên tòa có vắng mặt người tham gia tố tụng là ông Nguyễn Văn B, ông Lê Hoàng K và bà Võ Thị H1, nhưng xét thấy sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử; đối với người bào chữa, Trung tâm T cử Luật sư Nguyễn Văn N và Trợ giúp viên pháp lý ông Nguyễn Phong V bào chữa cho bị cáo, nhưng tại phiên tòa có mặt ông V và vắng mặt ông N, nên vẫn còn có người bào chữa cho bị cáo; tại phiên tòa, vị đại diện Viện Kiểm sát, bị cáo và những người có mặt đều không yêu cầu hoãn phiên tòa, nên căn cứ vào các Điều 291, 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
- [2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và đương sự trong vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [3] Xét về hành vi phạm tội của bị cáo theo cáo trạng truy tố về tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản”, tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; cụ thể là bị cáo thừa nhận đã có hành vi lợi dụng việc bị hại ông Nguyễn Văn B lội xuống sông để cuốn lưới giăng cá, biết rằng ông B không thể truy đuổi kịp khi bị cáo lấy tài sản, nên đã công khai chiếm đoạt tài sản của ông B, tài sản chiếm đoạt là xe mô tô có giá trị 3.300.000 đồng, nhằm mục đích để có tiền tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội ở địa phương; vì vậy, việc Viện Kiểm sát truy tố ra trước Tòa án để xét xử bị cáo Bùi Văn C về tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 172 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- [4] Khoản 1 Điều 172 của Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. ...”
- [5] Xét thấy bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì chỉ muốn hưởng thụ thành quả lao động của người khác và xem thường sự trừng phạt của pháp luật, nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội nêu trên. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội sau này và đồng thời cũng nhằm để răn đe, phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
- [6] Xét về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tuy chưa có tiền án, tiền sự, nhưng sau khi phạm tội trong vụ án này đang được điều tra, thì lại tiếp tục phạm tội và đang bị khởi tố, tạm giam ở địa phương khác; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại đã được thu hồi trả lại cho chủ sở hữu nên được coi là chưa gây thiệt hại hoặc thiệt hại không lớn; đồng thời xét bị cáo có trình độ học vấn thấp (lớp 5/12), nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo các điểm i, s, h khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- [7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại trong vụ án đã được nhận lại tài sản bị chiếm đoạt do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra xong, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- [8] Về xử lý vật chứng đang tạm giữ: Không có.
- [9] Về án phí: Người bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; đối với người phải chịu án phí thuộc trường hợp “hộ nghèo, cận nghèo” sẽ được miễn án phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 172, Điều 38, các điểm i, s, h khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; các Điều 136, 291, 292, 293, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 và điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Tuyên bố bị cáo Bùi Văn C phạm tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản”; xử phạt Bùi Văn C 06 (sáu) tháng tù; thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Về án phí: Bị cáo Bùi Văn C được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo và đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ đối với người vắng mặt.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Diệu |
Bản án số 67/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG về hình sự (công nhiên chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 67/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Công nhiên chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn C phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, xử phạt 6 tháng tù
