|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 67/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 31/10/2024.
“V/v không công nhận quan hệ vợ chồng”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Loan.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Minh Đầy.
- Bà Bùi Thanh Thúy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Minh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên toà: Ông Trịnh Hiếu Huy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 31/10/2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 298/2024/TLST-HNGĐ ngày 08/10/2024 về việc “Tranh chấp không công nhận quan hệ vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 180/2024/QĐXX-ST ngày 16/10/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Tuấn E, sinh năm 1993 (vắng mặt có đơn xin vắng mặt ngày 16/10/2024).
Địa chỉ: Số B, ấp A, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; Điện thoại: 0909.461.xxx
- Bị đơn: Nguyễn Thị Hoàng Y, sinh năm 27/01/1997 (vắng mặt có đơn xin vắng mặt ngày 16/10/2024).
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai, nguyên đơn anh Nguyễn Tuấn E trình bày:
Anh Tuấn E1 và chị Y quen biết nhau năm 2013, có tìm hiểu nhau, có tổ chức đám cưới và bắt đầu chung sống từ tháng 02/2013, nhưng không đăng ký kết hôn. Sau khi đám cưới thì sống nhà trọ ở thành phố Hồ Chí Minh.
Thời gian đầu anh Tuấn E1 và chị Y chung sống hạnh phúc, đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, từ đó tình cảm không còn. Sau khi mâu thuẫn Chị Y bỏ về nhà mẹ ruột của chị Y sinh sống và sống ly thân với anh Tuấn E1 từ năm 2016 cho đến nay, hiện nay chị Y cũng đã có gia đình khác. Anh Tuấn Em nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, thường xuyên cự cải, tính tình không phù hợp, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh Tuấn E1 yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng với chị Y.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Có 01 con chung tên Nguyễn Tuấn H, sinh ngày 10/12/2013 (hiện con đang sống với anh Nguyễn Tuấn E). Anh Tuấn E1 yêu cầu được nuôi con sau khi Tòa án không công nhận vợ chồng với chị Y. Anh Tuấn E1 không yêu cầu chị Y cấp dưỡng nuôi con.
Anh Nguyễn Tuấn E đồng ý cho chị Nguyễn Thị Hoàng Y năm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai cản trở.
Về tài sản chung: Anh Nguyễn Tuấn E trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Anh Nguyễn Tuấn E trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo lời khai ngày 16/10/2024 bị đơn chị Nguyễn Thị Hoàng Y trình bày:
Anh Tuấn E1 và chị Y quen biết nhau tiến đến hôn nhân, nhưng không đăng ký kết hôn như anh Tuấn E1 trình bày. Sau khi chung sống cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc do điều kiện kinh tế khó khăn, anh T Em đánh chị Y, vợ chồng không có tiến nói chung hay cải vả nhau, chị Y bỏ đi đến khoảng năm 2015, 2016 thì về chung sống lại, nhưng anh Tuấn E1 bạo lực nên chị Y tiếp tục bỏ đi cho đến nay. Nay anh Tuấn E1 yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng chị Y đồng ý.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Có 01 con chung tên Nguyễn Tuấn H, sinh ngày 10/12/2013 (hiện con đang sống với anh Nguyễn Tuấn E).
Chị Nguyễn Thị Hoàng Y đồng ý giao con Nguyễn Tuấn H, sinh ngày 10/12/2013 cho anh Nguyễn Tuấn E nuôi sau khi Tòa án không công nhận vợ chồng, chị Y không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Hoàng Y trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị Hoàng Y trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục thụ lý, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn, đã chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về đường lối giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 14, Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
- + Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Nguyễn Tuấn E và chị Nguyễn Thị Hoàng Y
- + Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Có 01 con chung tên Nguyễn Tuấn H, sinh ngày 10/12/2013 (hiện con đang sống với anh Nguyễn Tuấn E)
Giao con Nguyễn Tuấn H, sinh ngày 10/12/2013 cho anh Nguyễn Tuấn E nuôi sau khi Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Nguyễn Tuấn E và chị Nguyễn Thị Hoàng Y. Về cấp dưỡng nuôi con, do anh Nguyễn Tuấn E không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.
Chị Nguyễn Thị Hoàng Y có quyền và nghĩa vụ quyền đến năm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
- + Về tài sản chung và nợ chung: Anh Nguyễn Tuấn E và chị Nguyễn Thị Hoàng Y trình bày là không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng và thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Tuấn E yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng với chị Nguyễn Thị Hoàng Y. Chị Y có nơi cư trú tại: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Căn cứ vào khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; Các Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ “Tranh chấp không công nhận quan hệ vợ chồng” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.
- Về việc vắng mặt đương sự: Anh Nguyễn Tuấn E và chị Nguyễn Thị Hoàng Y vắng mặt có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt ngày 16/10/2024. Căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt anh Nguyễn Tuấn E và chị Nguyễn Thị Hoàng Y là đúng quy định của pháp luật.
- Về hôn nhân: Anh Tuấn E1 và chị Y có tìm hiểu nhau, tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng vào tháng 02/2013, có tổ chức đám cưới, nhưng không đăng ký kết hôn. Thời gian đầu anh Tuấn E1 và chị Y chung sống hạnh phúc, đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn theo anh Tuấn E1 trình bày là vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, từ đó tình cảm không còn và sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Còn chị Nguyễn Thị Hoàng Y thì cho rằng sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc do điều kiện kinh tế khó khăn, vợ chồng không có tiến nói chung hay cải vả nhau, chị Y bỏ đi đến khoảng năm 2015, 2016 thì về chung sống lại nhưng anh Tuấn E1 bạo lực nên chị Y tiếp tục bỏ đi cho đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy anh Tuấn E1 và chị Y khi chung sống chưa đủ điều kiện để đăng ký kết hôn, đến năm 2015 anh Tuấn E1 và chị Y đủ điều kiện để đăng ký kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình, nhưng không đăng ký kết hôn, đồng thời tình cảm vợ chồng không thể hòa giải, mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Căn cứ vào khoản 1 Điều 9; Điều 14; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Hội đồng xét xử xét không công nhận quan hệ vợ chồng của anh Nguyễn Tuấn E và chị Nguyễn Thị Hoàng Y là đúng quy định của pháp luật.
- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Có 01 con chung tên Nguyễn Tuấn H, sinh ngày 10/12/2013 (hiện con đang sống với anh Nguyễn Tuấn E)
Giao con Nguyễn Tuấn H, sinh ngày 10/12/2013 cho anh Nguyễn Tuấn E nuôi sau khi Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Tuấn E và chị Y. Về cấp dưỡng nuôi con, do anh Tuấn E không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.
Chị Nguyễn Thị Hoàng Y có quyền và nghĩa vụ quyền đến năm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Anh Nguyễn Tuấn E và chị Nguyễn Thị Hoàng Y trình bày không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
- Về nợ chung: Anh Nguyễn Tuấn E và chị Nguyễn Thị Hoàng Y trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Anh Nguyễn Tuấn E phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
- Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 9, 14, 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Không công nhận anh Nguyễn Tuấn E và chị Nguyễn Thị Hoàng Y là vợ chồng.
- Về con chung: Giao con Nguyễn Tuấn H, sinh ngày 10/12/2013 (hiện con đang sống với anh Nguyễn Tuấn E) cho anh Nguyễn Tuấn E nuôi sau khi Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Nguyễn Tuấn E và chị Nguyễn Thị Hoàng Y.
Về cấp dưỡng nuôi con, anh Nguyễn Tuấn E không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.
Chị Nguyễn Thị Hoàng Y có quyền và nghĩa vụ quyền đến năm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Anh Nguyễn Tuấn E và chị Nguyễn Thị Hoàng Y trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về nợ chung: Anh Nguyễn Tuấn E và chị Nguyễn Thị Hoàng Y trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: Anh Nguyễn Tuấn E phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí anh Tuấn E đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0013517 ngày 26/9/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành được trừ vào án phí anh Tuấn E phải chịu (anh Nguyễn Tuấn E đã nộp xong án phí).
- Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hồng Loan |
Bản án số 67/2024/HNGĐ-ST ngày 31/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp không công nhận quan hệ vợ chồng
- Số bản án: 67/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp không công nhận quan hệ vợ chồng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/10/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không công nhận anh Nguyễn Tuấn E và chị Nguyễn Thị Hoàng Y là vợ chồng.
