Hệ thống pháp luật
Bản án

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TIÊN LÃNG

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 67/2024/HS-ST

Ngày 30-10-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Xuyến;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hữu Bình,

Ông Phạm Văn Tiến.

- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Ngọc Anh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Dung – Kiểm sát viên.

- Người tham gia tố tụng khác: Bà Trần Thị T, cán bộ Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng.

Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến, điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an thành phố H, vụ án hình sự thụ lý số 65/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Phạm Đức D, sinh ngày 12 tháng 9 năm 1981 tại Thái Bình; nơi cư trú: Phố L, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lái xe; giới tính: Nam, tôn giáo: Không, dân tộc: Kinh, quốc tịch: Việt Nam, trình độ văn hóa: 9/12, con ông Phạm Quang R và bà Nguyễn Thị S; có vợ là Trần Thị D1, sinh năm 1989 và 03 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại Bản án hình sự số 18/HSST ngày 14/8/2002, Toà án nhân dân thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước xử phạt Phạm Đức D 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (giá trị tài sản 710.000 đồng), đã được xoá án tích.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18 tháng 6 năm 2024 đến ngày 24 tháng 6 năm 2024 chuyển tạm giam; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công an huyện T, thành phố Hải Phòng. Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Văn T1, chức vụ: Trưởng Công an huyện T.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đinh Đức H, chức vụ: Đội trưởng Đội Cảnh sát giao thông – trật tự Công an huyện T (theo Văn bản ủy quyền số 193/CV-CATL ngày 15/8/2024), vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Vũ Văn T2, ông Vũ Văn Đ, ông Trần Văn T3 (đều là cán bộ Đội Cảnh sát Giao thông Công an huyện T), chị Mai Thị L; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thực hiện Kế hoạch số 25/KH-GT ngày 17/6/2024 của Công an huyện T về đảm bảo trật tự an toàn giao thông và kiểm tra nồng độ cồn, ngày 18/6/2024 tổ công tác gồm 08 đồng chí thuộc Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện lập chốt kiểm tra phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm về giao thông đường bộ tại khu vực đường B thuộc thôn K, xã Q, khi thực hiện nhiệm vụ các đồng chí trong tổ công tác đều mang mặc quan phục theo đúng điều lệnh của Ngành Công an nhân dân.

Khoảng 13 giờ ngày 18/6/2024, tổ công tác phát hiện Phạm Đức D có biểu hiện sử dụng rượu, bia đang điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát (BKS) 15K1-119.46 chở chị Mai Thị L tham gia giao thông nên đã yêu cầu D dừng xe để kiểm tra. Đồng chí Trần Văn T3 thành viên tổ công tác ra tín hiệu dừng xe đối với D bằng còi và gậy chỉ huy giao thông nhưng do đã sử dụng bia, sợ bị xử phạt nên D không chấp hành hiệu lệnh dừng xe mà điều khiển xe tăng ga bỏ chạy. Khi vượt qua chốt kiểm tra khoảng 30m, các đồng chí Vũ Văn T2, Vũ Văn Đ tiếp tục ra hiệu lệnh dừng xe bằng còi và gậy giao thông nhưng D không chấp hành, D điều khiển xe mô tô rẽ phải vào trục đường thôn K, xã Q tiếp tục bỏ chạy. Do D bỏ chạy, cần thiết phải ngăn chặn và xử lý ngay hành vi vi phạm giao thông nên đồng chí Đ điều khiển xe công vụ chở đồng chí T2 đi theo xe mô tô của D đến khu vực cánh đồng thôn T, xã Q thì D dừng lại. Đồng chí T2 đi về phía D yêu cầu D cung cấp thông tin cá nhân, địa chỉ và đưa máy đo nồng độ cồn về phía D yêu cầu kiểm tra nhưng D không chấp hành, liên tục chửi bới, lăng mạ, xúc phạm tổ công tác, dùng tay trái gạt mạnh vào tay đồng chí T2 đang cầm máy đo nồng độ cồn làm máy văng rơi xuống ruộng ngập trong nước. Tổ công tác Đội Cảnh sát giao thông - trật tự Công an huyện T phối hợp với Công an xã Q bắt giữ, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phạm Đức D về hành vi Chống người thi hành công vụ, thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX BKS 15K1-119.46 và 01 máy đo nồng độ cồn màu đỏ, kích thước (17x7)cm, số sêri E3005131 bị hư hỏng.

Kết quả kiểm tra nồng độ cồn đối với Phạm Đức D vào hồi 14 giờ 03 phút ngày 18/6/2024 là 0,311mg/l khí thở. Tiến hành xem xét dấu vết trên thân thể đối với ông Vũ Văn T2, ông Vũ Văn Đ (thành viên tổ công tác) không phát hiện dấu vết thương tích gì.

Kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐĐGTS ngày 09/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T, kết luận: “01 máy đo nồng độ cồn gồm hai phần, phần thân máy màu đỏ kích thước (17x7)cm, phần phễu hình ô van, màu trắng, trên máy dán tem kiểm định, mặt sau số sêri E3005131. Tình trạng máy bị hư hỏng nhiều linh kiện, bộ phận không thể sửa chữa, khắc phục, giá trị tài sản thiệt hại là 8.312.810 đồng”.

Tại Phiếu trả lời xác minh xe của Công an xã Q và Kết luận giám định số 2210/KL-KTHS, Phòng K1 Công an thành phố H, kết luận: “Xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu HONDA, mang BKS 15K1-119.46, chủ xe Nguyễn Văn K, địa chỉ: thôn T, xã H, huyện V, Hải Phòng, có số khung, số máy là số nguyên thuỷ, không phát hiện thấy có sự tẩy xoá, sửa chữa các ký tự”. Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1974 ở thôn T, xã H, huyện V mua xe từ năm 2013 đến năm 2018 cho em rể là anh Lương Văn V, sinh năm 1985 ở thôn T, xã Đ, huyện V. Tháng 12/2018, anh V bán lại xe này cho D với giá 5.000.000 đồng nhưng không viết giấy tờ mua bán và chưa làm thủ tục sang tên.

Quá trình điều tra, D khai nhận: Việc D không chấp hành hiệu lệnh dừng xe, điều khiển xe bỏ chạy, hất tay làm máy đo nồng độ cồn rơi xuống nước nhằm mục đích cản trở, không cho tổ công tác thực hiện nhiệm vụ kiểm tra nồng độ cồn. Một mình Duy thực hiện các hành vi cản trở tổ công tác, chị L đi cùng D nhưng không có lời nói, hành động kích động hay xúi giục Duy thực hiện hành vi đó. Ông Vũ Văn T2, ông Vũ Văn Đ, ông Trần Văn T3 là các thành viên tổ công tác đã có báo cáo, lời khai xác nhận về diễn biến sự việc; hành vi cản trở, chống đối của D đã làm cho tổ công tác không thể tiếp tục làm nhiệm vụ, máy đo nồng độ cồn bị hư hỏng hoàn toàn, gây thiệt hại về tài sản cho Công an huyện T. Chị Mai Thị L khai, việc D không chấp hành hiệu lệnh dừng xe để kiểm tra nồng độ cồn do một mình Duy thực hiện, chị không kích động, xúi giục bị cáo thực hiện các hành vi này.

Bản Cáo trạng số 69/CT-VKS-TL ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng truy tố Phạm Đức D về tội Chống người thi hành công vụ theo quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên. Bị cáo đã tác động gia đình nộp số tiền 8.312.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng để bồi thường thiệt hại máy đo nồng độ cồn cho Công an huyện T. Xe mô tô BKS 15K1-119.46 là tài sản hợp pháp, phương tiện đi lại của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử trả lại xe cho bị cáo.

Kiểm sát viên trình bày luận tội, giữ nguyên cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Đức D phạm tội Chống người thi hành công vụ. Căn cứ khoản 1 Điều 330; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Đức D từ 15 đến 21 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã nộp 8.312.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng để bồi thường thiệt hại về tài sản cho Công an huyện T. Vật chứng: Trả lại Công an huyện T 01 máy đo nồng độ cồn; trả lại bị cáo 01 xe mô tô BKS 15K1-119.46, có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng tại Chi cục Thi hành an dân sự huyện T. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Chứng cứ, tài liệu do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập; người tham gia tố tụng cung cấp có trong hồ sơ vụ án đều đảm bảo hợp pháp; được thu thập, cung cấp đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Xét thấy, việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án; căn cứ các điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng.

[4] Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, với lời khai những người làm chứng (là thành viên Tổ công tác Công an huyện T), kết luận định giá tài sản, kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử công bố công khai tại phiên tòa. Sự phù hợp đó chứng minh sự thật khách quan xảy ra ngày 18/6/2024 trên đường B thuộc địa phận thôn T, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng, khi Tổ công tác Công an huyện T yêu cầu bị cáo dừng xe để kiểm tra nồng độ cồn, bị cáo đã không chấp hành mà điều khiển xe mô tô bỏ chạy vào khu vực cánh đồng thôn T, xã Q. Khi dừng xe, bị cáo tiếp tục có hành vi chửi bới, lăng mạ, xúc phạm thành viên tổ ciong tác, dùng tay hất văng máy đo nồng độ cồn trên tay thành viên tổ công tác xuống ruộng ngập nước, cản trở việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra nồng độ cồn của tổ công tác, làm hư hỏng tài sản (máy đo nồng độ cồn) trị giá thiệt hại 8.312.810 đồng. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý; do đó bị cáo đã phạm tội Chống người thi hành công vụ theo quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự.

[5] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến trật tự quản lý hành chính nhà nước, xâm hại đến tài sản của nhà nước.

[6] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường thiệt hại nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s, b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có một thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã từng bị Tòa án xử phạt tù có thời hạn về tội trộm cắp tài sản, mặc dù đã được xóa án tích, song cần xác định bị cáo là người phạm tội có nhân thân xấu.

[7] Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo; trên cơ sở đề nghị của Kiểm sát viên và kết quả xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38 của Bộ luật Hình sự, phạt tù có thời hạn mới bảo đảm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo đã làm hư hỏng máy đo nồng độ cồn của Công an huyện T, giá trị thiệt hại là 8.312.810 đồng nên căn cứ các điều 584, 589 của Bộ luật Dân sự, bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại làm tròn là 8.312.000 đồng (bị cáo đã nộp 8.312.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng).

[9] Vật chứng: Xét thấy, máy đo nồng độ cồn là tài sản nhà nước trang cấp cho Công an huyện T để thực hiện công vụ, cần trả lại Công an huyện T; xe mô tô BKS 15K1-119.46 là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp, phương tiện đi lại của bị cáo, không phải là phương tiện phạm tội nên cần trả lại bị cáo theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng, theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Đức D phạm tội Chống người thi hành công vụ.

  1. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 330; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, phạt: Phạm Đức D 18 (Mười tám) tháng tù về tội Chống người thi hành công vụ. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 18 tháng 6 năm 2024.
  2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các điều 584, 589 của Bộ luật Dân sự, buộc Phạm Đức D phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho Công an huyện T số tiền 8.312.000 đồng (Tám triệu ba trăm mười hai nghìn) đồng (khoản tiền này đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng).
  3. Vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • - Trả lại Công an huyện T 01 (Một) máy đo nồng độ cồn;
    • - Trả lại Phạm Đức D 01 (Một) xe mô tô BKS 15K1-119.46,
    • Các vật chứng nêu trên đều có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng.
  4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc Phạm Đức D phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND huyện Tiên Lãng;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Tiên Lãng;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Tiên Lãng;
  • - Chi cục THADS huyện Tiên Lãng;
  • - Công an thành phố Hải Phòng (PC10, PV06)
  • - Trại giam;
  • - Bị cáo;
  • - Ng có quyền lợi, nghãi vụ liên quan;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Xuyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự (chống người thi hành công vụ)

  • Số bản án: 67/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Chống người thi hành công vụ)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Đức D Chống người thi hành công vụ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger