Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ÂN THI

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2024/HSST

Ngày: 29 - 10 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI - TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Lũng.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông: Trần Quang Chử;

Ông: Trịnh Đình Động.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tuấn Anh - Thư ký Tòa án.

Đại diện VKSND huyện tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị H - KSV.

Ngày 29 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ân Thi, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 68/2024/HSST ngày 10 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68 ngày 16 tháng 10 năm 2024 đối với:

1- Bị cáo: Nguyễn Đức H1, sinh năm 1980. Giới tính: Nam. Nơi cư trú: thôn Đ, xã Q, huyện Â, tỉnh Hưng Yên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/12. Con ông Nguyễn Huy T, con bà Trần Thị H2. Tiền án: Ngày 27/02/2014 bị Toà án nhân dân huyện Ân Thi xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 22/9/2016 bị Toà án nhân dân huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên xử phạt 03 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (Lần phạm tội này bị cáo bị tái phạm); Ngày 14/02/2020 bị Toà án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương xử phạt 05 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Lần phạm tội này bị cáo bị tái phạm nguy hiểm); Về nhân thân: Ngày 11/11/2008 bị Công an huyện N, tỉnh Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản; Ngày 18/01/2009 bị Công an huyện G, tỉnh Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vận chuyển pháo nổ; Ngày 25/7/2013 bị Công an xã Q, huyện Â, tỉnh Hưng Yên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản. Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 21/6/2024 sau đó chuyển tạm giam ngày 27/6/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Â. Có mặt

3- Người làm chứng:

- Ông Lê Văn C, sinh năm 1963; Trú tại: thôn P, xã T, huyện Â, tỉnh Hưng Yên.

- Anh Trịnh Quang N, sinh năm 1981; Trú tại: thôn Đ, xã Q, huyện Â, tỉnh Hưng Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện chất ma tuý nên khoảng 08 giờ ngày 21/6/2024, Nguyễn Đức H1 sinh năm 1980 ở thôn Đ, xã Q, huyện Â, tỉnh Hưng Yên đi bộ từ nhà ra ngoài để tìm mua ma tuý sử dụng. Khi đi đến khu vực đường gom của đường C - Hải Phòng thuộc địa phận thôn N, xã T, huyện  thì H1 nhìn thấy một người đàn ông không biết tên, địa chỉ, trông giống người nghiện ma tuý đang đứng ở lề đường. H1 đến gần hỏi “có không để cho hai trăm” (ý H1 hỏi người này “có ma tuý Heroine bán cho 200.000 đồng”), người này nói “có, tiền đâu”. H1 đưa cho người này 200.000 đồng và người này đưa cho H1 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ bên trong chứa chất màu trắng dạng cục và bột. H1 biết là ma tuý H3 nên cầm gói ma tuý bằng tay phải rồi đi bộ về. Khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, khi H1 đi đến đoạn đường gom của đường C - Hải Phòng thuộc địa phận thôn T, xã T thì bị Công an huyện  phối hợp Công an xã T, phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H1, vật chứng thu giữ: tại lòng bàn tay phải của H1 có 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ, kích thước (02 x 01)cm bên trong chứa chất màu trắng dạng cục và bột, H1 khai là H3 vừa mua để sử dụng, được niêm phong trong bì thư ghi ký hiệu I. Cùng ngày, tiến hành xét nghiệm chất ma tuý đối với H1, kết quả xét nghiệm: Dương tính.

Tại Kết luận giám định số: 473/KL-KTHS (MT) ngày 24/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi ký hiệu (I), có khối lượng là 0,147 gam là ma tuý, loại Heroine.

Quá trình điều tra, Nguyễn Đức H1 đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho H1, do H1 khai không biết họ tên, tuổi, địa chỉ của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện  tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

* Về vật chứng của vụ án: Hoàn lại sau giám định 0,137gam ma tuý loại Heroine, 01 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ và 01 vỏ phong bì trong niêm phong ghi số 473/KL-KTHS (MT) của Phòng K Công an tỉnh H. Hiện được quản lý tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ân Thi.

Cáo trạng số: 68/CT-VKSAT ngày 10/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức Hoàn về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm o khoản 2 điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay:

Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình và hòa nhập cộng đồng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận.

Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Hành vi phạm tội của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Đức H1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Đức H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

- Xử phạt bị cáo: Nguyễn Đức H1 từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 21/6/2024.

- Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản riêng và không có thu nhập ổn định nên đề nghị xét miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

- Vật chứng:

+ Tịch thu cho tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong là mẫu vật hoàn lại sau giám định ghi số: 473/KL-KTHS (MT), bên trong chứa 0,137 gam là ma tuý, loại Heroine; 01 mảnh giấy gói ma tuý và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình và hòa nhập cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Â, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Â, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 21/6/2024, tại đoạn đường gom của đường C - Hải Phòng thuộc địa phận thôn T, xã T, huyện Â, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Đức H1 đã có hành vi Tàng trữ trái phép 0,147 gam ma túy, loại Heroine nhằm mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Đây là tình tiết định khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự nên Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo theo tội danh và Điều luật viện dẫn trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Xét về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm, ma túy không chỉ làm suy kiệt sức lao động mà nó còn có thể làm hạn chế hoặc mất đi khả năng điều khiển hành vi của con người và là nguyên nhân nảy sinh các loại tội phạm khác, làm đổ vỡ hạnh phúc gia đình, gây mất trật tự trị an trong xã hội, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, để thỏa mãn cơn nghiện bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Do vậy để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và có ích cho gia đình và xã hội cần phải tuyên phạt bị cáo một hình phạt nhất định tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.

[4] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

+ Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân rất xấu đã nhiều lần bị đưa ra xét xử và xử phạt hành chính về các hành vi Trộm cắp tài sản; Vận chuyển pháo nổ; Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy.

+ Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

+ Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Huy T đã có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác mà bị cáo được hưởng thêm quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Hội đồng xét xử nhận thấy để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội cần tuyên phạt bị cáo một hình phạt nhất định tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra và cách li bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới đủ răn đe giáo dục đối với bị cáo.

[5] Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản riêng và thu nhập không ổn định nên xét miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

[6] Vật chứng của vụ án:

+ Tịch thu cho tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong là mẫu vật hoàn lại sau giám định ghi số: 473/KL-KTHS (MT), bên trong chứa 0,137 gam là ma tuý, loại Heroine; 01 mảnh giấy gói ma tuý và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.

(Đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21 tháng 10 năm 2024 giữa Công an huyện và Chi cục thi hành án dân sự huyện Ân Thi)

[7] Án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức H1 phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

- Xử phạt bị cáo: Nguyễn Đức H1 05 (năm) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 21/6/2024.

- Vật chứng:

+ Tịch thu cho tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật sau giám định số: 473/KL-KTHS (MT), bên trong chứa 0,137 gam là ma tuý, loại Heroine; 01 mảnh giấy gói ma tuý và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.

(Đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21 tháng 10 năm 2024 giữa Công an huyện và Chi cục thi hành án dân sự huyện Ân Thi)

- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí sơ thẩm hình sự.

- Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV và THA - Tòa án tỉnh;
  • - VKSND tỉnh;
  • - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ CA huyện;
  • - Cq CSĐT-CA huyện;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện Ân Thi;
  • - VKSND huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tiến Lũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2024/HSST ngày 29/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI - TỈNH HƯNG YÊN về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 67/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI - TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tttpmt
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger