Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ VĨNH CHÂU

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2024/HS-ST

Ngày: 22-10-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Phương.
  • Các Hội thẩm nhân dân:Ông Thái Trung Nghĩa.
  • Ông Sơn Khem.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Khiết Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên toà: Ông Trần Thanh Duẩn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 10 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 71/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc S, sinh ngày 01/01/1991, tại V, Sóc Trăng; Nơi cư trú: ấp C, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm công; Trình độ học vấn: 03/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thanh H và bà Nguyễn Thị H1; bị cáo chưa có vợ và con; Tiên án, tiên sự: không có; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 18/6/2024 và sau đó chuyển sang tạm giam cho đến nay; (Bị cáo có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1960; (có mặt).
  2. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1970; (có mặt).

Cùng nơi cư trú: Ấp C, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 00 phút ngày 17/6/2024, tại lộ đal thuộc ấp L, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, Tổ tuần tra đảm bảo an ninh trật tự thuộc Công an V kiểm tra và lập biên bản bắt quả tang đối với bị cáo Nguyễn Ngọc S có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ tại hiện trường 01 bịch nylon được hàn kín hai đâu, bên trong có chứa ma túy đá (gói số 01) và các vật chứng khác có liên quan. Sau đó, tiến hành khám xét tại nhà của bị cáo Nguyễn Ngọc S thu giữ thêm 02 bịch nylon bên trong có chứa ma túy (gói số 02) và bộ D sử dụng trái phép chất ma túy. Số ma túy nêu trên, bị cáo Nguyễn Ngọc S mua của người thanh niên tên là Ú (không xác định được họ tên và địa chỉ) trước đó vào lúc 16 giờ 00 phút ngày 17/6/2024 tại khu vực cổng Chùa Mới thuộc Phường B, thị xã V với giá 500.000 đồng (nhưng bị cáo S xin người bán lại số tiên 50.000 đồng) đem về chia ra 03 bịch nhỏ và cất giấu trong nhà mục đích là để sử dụng.

Tại kết luận giám định số 116/KLMT - KTHS ngày 22/6/2024 của phòng K Công an tỉnh S kết luận như sau:

  • Gói 01: Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, tổng khối lượng 0,0956 gam, loại Methamphetamine.
  • Gói 02: Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, tổng khối lượng 0,0105 gam, loại Methamphetamine.

Tại Cáo trạng số: 71/CT-VKS-VC ngày 03 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điêu 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Xét thấy, bị cáo Nguyễn Ngọc S có hành vi tàng trữ ma túy có tổng khối lượng 0,1061 gam loại Methamphetamine, đủ căn cứ quy kết bị cáo Nguyễn Ngọc S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điêu 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Ngọc S. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điêu 51; Điêu 38 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc S mức án từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù;

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điêu 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điêu 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

  • - Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: 0,0649 gam mẫu tinh thể rắn màu trắng và vỏ, bao gói còn lại sau giám định được niêm phong bằng giấy trắng và băng keo màu trong phong bì màu trắng, bên ngoài ghi “Phiếu niêm phong vụ số 116/2024, ngày 22/7/2024”; 01 hột quẹt gas bị bể; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa tự chế không màu được quấn băng keo màu đen, có nắp đậy màu xanh, bên trên nắp có đục 02 lỗ, trong đó 01 lỗ gắn 01 đoạn ống nhựa màu trắng, 01 lỗ gắn ống thủy tinh màu trắng có 01 đâu bị uốn cong dạng hình phễu (nỏ).
  • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu TECNO SPARK màu xanh đã qua sử dụng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu xanh, không biển kiểm soát do bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội.
  • - Trả cho bị cáo Nguyễn Ngọc S: Tiền Việt Nam, số tiền 782.000 đồng.

Theo Phiếu nhập kho số: NK01 ngày 01/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Ngọc S trình bày và nói lời sau cùng: Bị cáo Nguyễn Ngọc S thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố và thống nhất ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo Nguyễn Ngọc S xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Thanh H trình bày: Việc bị cáo Nguyễn Ngọc S mua ma túy về cất giấu trong nhà, bà Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Thanh H không biết. Khi Công an thị xã V tiến hành lập biên bản bắt quả tang và khám xét nơi ở mới biết bị cáo Nguyễn Ngọc S cất giấu ma túy trong nhà.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Vê hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát, Điêu tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyên tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Vê chứng minh và chứng cứ: Xét thấy, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã V đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật được quy định tại các điều 85, 86, 87, 88, 89, 90, 94, 98, 100, 102, 104, 105, 106, 108 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Ngọc S khai nhận 03 bịch ma túy do Công an thị xã V thu giữ khi bắt quả tang và khám xét tại nhà có khối lượng ma túy 0,1061 gam loại Methamphetamine là của bị cáo Nguyễn Ngọc S mua từ người thanh niên tên Ú (không xác định được họ tên và địa chỉ) ở trước cổng Chùa M, Phường B, thị xã V vào lúc 16 giờ 00n phút ngày 17/6/2024 với số tiên là 500.000 đồng (bị cáo S trả 450.000 đồng và xin lại 50.000 đồng để đổ xăng) đem về chia ra 03 bịch nhỏ và cất giấu trong nhà mục đích là để sử dụng. Đến 21 giờ 00 ngày 17/6/2024 bị cáo S lấy 01 bịch ma túy đi ra ngoài để sử dụng thì bị Tổ tuần tra đảm bảo an ninh trật tự thuộc Công an thị xã V, tỉnh Sóc Trăng kiểm tra phát hiện và lập biên bản bắt quả tang. Xét thấy, lời nhận tội của bị cáo Nguyễn Ngọc S là phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và biên bản khám xét ngày 17/6/2024; vật chứng thu giữ; biên bản khám nghiệm hiện trường; Kết luận giám định số: 116/KLMT-KTHS ngày 22/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh S và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đối chiếu với quy định của pháp luật, xét thấy hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc S đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Do có hành vi phạm tội nêu trên, xét thấy, Cáo trạng số: 71/CT-VKS-VC ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điêu 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai cho bị cáo.

[5] Động cơ phạm tội của bị cáo Nguyễn Ngọc S là nhằm mục đích mua ma túy về sử dụng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân của mình. Ý thức chủ quan của bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp và gây hậu quả thuộc trường hợp nghiêm trọng.

[6] Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Ngọc S là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo nhận thức được rằng việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi mua ma túy về cất giấu trong nhà để sử dụng thỏa mãn nhu cầu cá nhân của mình. Hiện nay, trên địa bàn thị xã V tội phạm ma túy ngày càng gia tăng và gây bức xúc trong dư luận xã hội. Do đó, đối với bị cáo Nguyễn Ngọc S cân phải có một mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, mục đích nhằm để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Tuy nhiên, về hình phạt bổ sung: Xét thấy, hoàn cảnh gia đình của bị cáo Nguyễn Ngọc S khó khăn, đi làm công nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là thể hiện tính khoan hồng của Nhà nước đối với bị cáo Nguyễn Ngọc S.

[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Ngọc S không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội có thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiên án tiên sự; Bị cáo có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điêu 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét giảm nhẹ một phân hình phạt cho bị cáo Nguyễn Ngọc S là phù hợp với quy định của pháp luật.

[9] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điêu 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điêu 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

  • - Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: 0,0649 gam mẫu tinh thể rắn màu trắng và vỏ, bao gói còn lại sau giám định được niêm phong bằng giấy trắng và băng keo màu trong phong bì màu trắng, bên ngoài ghi “Phiếu niêm phong vụ số 116/2024, ngày 22/7/2024”; 01 hột quẹt gas bị bể; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa tự chế không màu được quấn băng keo màu đen, có nắp đậy màu xanh, bên trên nắp có đục 02 lỗ, trong đó 01 lỗ gắn 01 đoạn ống nhựa màu trắng, 01 lỗ gắn ống thủy tinh màu trắng có 01 đâu bị uốn cong dạng hình phễu (nỏ).
  • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu TECNO SPARK màu xanh đã qua sử dụng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu xanh, không biển kiểm soát do bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội.
  • - Trả cho bị cáo Nguyễn Ngọc S: Tiền Việt Nam, số tiền 782.000 đồng.

Theo Phiếu nhập kho số: NK01 ngày 01/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu.

[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Ngọc S phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[11] Tại phiên tòa, xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Ngọc S nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[12] Đối với đối tượng tên Ú bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Ngọc S do không xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã V chưa làm việc được. Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

[13] Đối với căn nhà tại ấp C, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng thuộc sở hữu hợp pháp của bà Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Thanh H. Việc bị cáo Nguyễn Ngọc S mua ma túy về cất giấu trong nhà nêu trên để sử dụng, bà H1 và ông H không biết. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã V không căn cứ để xử lý bà H1 và ông H là đúng với quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc S, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điêu 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điêu 51; Điêu 38 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên xử :

  1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc S: 01 (một) năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 18/6/2024.
  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điêu 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điêu 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
    • - Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: 0,0649 gam mẫu tinh thể rắn màu trắng và vỏ, bao gói còn lại sau giám định được niêm phong bằng giấy trắng và băng keo màu trong phong bì màu trắng, bên ngoài ghi “Phiếu niêm phong vụ số 116/2024, ngày 22/7/2024”; 01 hột quẹt gas bị bể; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa tự chế không màu được quấn băng keo màu đen, có nắp đậy màu xanh, bên trên nắp có đục 02 lỗ, trong đó 01 lỗ gắn 01 đoạn ống nhựa màu trắng, 01 lỗ gắn ống thủy tinh màu trắng có 01 đâu bị uốn cong dạng hình phễu (nỏ).
    • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu TECNO SPARK màu xanh đã qua sử dụng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu xanh, không biển kiểm soát do bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội.
    • - Trả cho bị cáo Nguyễn Ngọc S: Tiền Việt Nam, số tiền 782.000 đồng.

    Theo Phiếu nhập kho số: NK01 ngày 01/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu.

  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điêu 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điêu 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Bị cáo Nguyễn Ngọc S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu câu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm theo quy định tại các Điêu 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư Pháp tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND thị xã Vĩnh Châu;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Công an thị xã Vĩnh Châu;
  • - Chi cục THADS thị xã Vĩnh Châu;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - Phòng KTNV & THA TAND tỉnh ST;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Vũ Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2024/HS-ST ngày 22/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 67/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc S - Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger