|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 67/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 23 tháng 9 năm 2024
“V/v tranh chấp về hôn nhân
và gia đình, ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
-
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương.
-
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Hảo, ông Nguyễn Thanh Trang.
-
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Hà Tuyết Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
-
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bích Vân, Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 251/2024/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 229/2024/QĐXXST-HN ngày 21/8/2024 giữa:
-
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1995, nơi cư trú: Tổ A, ấp Đ, xã V, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
-
Bị đơn: Ông Ngô Văn C, sinh năm 1994, địa chỉ: Số H, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đ trình bày:
Bà và ông C tự tìm hiểu yêu thương chung sống với nhau vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại UBND phường N theo số 08 ngày 19/02/2016. Thời gian đầu vợ, chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2009 thì xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm và không còn sống chung từ năm 2019 cho đến nay. Trong thời gian chung sống, bà và ông C có sinh 01 con chung tên Ngô Văn Hoàng N, sinh năm 2016.
Do mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu ly hôn với ông C. Đồng ý giao con chung cho ông C nuôi dạy và không cấp dưỡng nuôi con chung. Tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng cho ông C nhưng ông C vắng mặt không có lý do.
Qua ghi nhận lời khai của bà T là mẹ ruột ông C được biết, ông C biết việc bà Đ kiện yêu cầu ly hôn nhưng do ông C bận đi làm ăn xa nên xin vắng mặt không đến Tòa tham gia hòa giải, xét xử và ông C cũng đồng ý ly hôn với bà Đ, yêu cầu được nuôi dạy con chung, không yêu cầu bà Đ cấp dưỡng.
Kết quả xác minh tại B khóm V, phường N, thành phố C được biết: Ông C có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Số H, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; hiện ông C đi làm xa (đi đi về về) nên không thường xuyên sinh sống tại địa phương.
Tòa án tiến hành mở phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải giữa các đương sự, tuy nhiên ông C vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa,
-
- Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt.
-
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về thủ tục: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng và đầy đủ theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về việc giải quyết vụ án: Về hôn nhân, đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà Đ được ly hôn với ông C. Về con chung, đề nghị giao ông C tiếp tục nuôi dạy con chung; bà Đ không cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung không đề cập.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
-
Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn. Bị đơn cư trú trên địa bàn thành phố C. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
-
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung:
-
Về quan hệ hôn nhân, nguyên đơn và bị đơn kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N nên được xem là hôn nhân hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.
Xét, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và sống chung với nhau. Tuy nhiên, trong suốt thời gian chung sống bà Đ, ông C thường xảy ra mâu thuẫn, không còn sống chung với nhau, trong thời gian dài vợ chồng cũng không chủ động hàn gắn tình cảm. Từ đó cho thấy tình trạng hôn nhân của bà Đ và ông C là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc bà Đ khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông C là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 như đề nghị của Kiểm sát viên.
-
Về con chung: Bà Đ và ông C có 01 con chung tên Ngô Văn Hoàng N, sinh năm 2016, từ khi sinh ra đến nay, cháu N sống cùng với ông C. Bà Đ đồng ý giao con chung cho ông C nuôi dạy và không cấp dưỡng. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Đ, giao cháu N cho ông C tiếp tục nuôi dạy cho đến khi thành niên và có khả năng lao động.
Ông C cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở bà Đ trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
-
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Đ không yêu nên không xem xét, giải quyết.
-
Về án phí hôn nhân sơ thẩm, nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Bị đơn không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
-
- Các Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
-
- Các Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
-
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ.
-
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1995 được ly hôn ông Ngô Văn C, sinh năm 1994.
-
Về con chung: Ông Ngô Văn C được tiếp tục nuôi dạy con chung Ngô Văn Hoàng N, sinh năm 2016 cho đến khi thành niên và có khả năng lao động. Bà Nguyễn Thị Đ không cấp dưỡng nuôi con.
Ông C cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở bà Đ trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
-
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Đ không yêu cầu, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
-
Về án phí hôn nhân sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Đ phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0003579 ngày 16 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc; bà Đ đã nộp đủ án phí.
Ông Ngô Văn C không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ nhận tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết, nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Phương |
Bản án số 67/2024/HNGĐ-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn
- Số bản án: 67/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hôn nhân Nguyễn Thị Đào
