Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUY PHƯỚC

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2024/HS-ST

Ngày 18-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Tú.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Minh Thâm.
  2. Ông Phạm Thành Nghĩa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Linh là Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hồng Tuân – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 59/2024/TLST-HS, ngày 29 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 169/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Uông Thị Nhật T; tên gọi khác: Không; giới tính: Nữ; sinh ngày: 01/01/1973 tại huyện T, tỉnh Bình Định; nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ E, khu phố V, thị trấn D, huyện T, tỉnh Bình Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Buôn bán tạp hóa; trình độ văn hoá: 9/12; con ông: Uông Nhật Q, sinh năm: 1943; con bà: Trần Thị C; sinh năm: 1947; chồng: Trần Minh C1, sinh năm: 1967; con: 02 người, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T từ ngày 03/4/2024 đến ngày 09/5/2024 thay thế biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh; có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Võ Văn T1; tên gọi khác: D; giới tính: Nam; sinh ngày: 10/02/1978 tại thị xã A, tỉnh Bình Định; nơi ĐKNKTT: Số B, đường N, tổ C, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai; chỗ ở hiện nay: Số G, đường S, tổ B, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: 9/12; con ông: Võ Văn T2 (chết); con bà: Nguyễn Thị L (chết); vợ: Nguyễn Thị Tuyết T3, sinh năm: 1978; con: Có 03 người, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2005; tiền án: Ngày 29/9/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xử phạt 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án 29/9/2022, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo Bản án số 157/2022/HSST ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai; tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T từ ngày 03/4/2024 đến ngày 09/5/2024 thay thế biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh; có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Trần Thị Kim P, sinh năm 1979; nơi cư trú: Số nhà G, đường N, khu phố V, thị trấn D, huyện T, tỉnh Bình Định; có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Ông Trần Minh C1, sinh năm 1967; nơi cư trú: Tổ E, khu phố V, thị trấn D, huyện T, tỉnh Bình Định; có mặt.
  2. Ông Nguyễn Xuân T4, sinh năm 1966; nơi cư trú: Số nhà D, đường T, tổ C, phường C, thành phố P, tỉnh Gia Lai; vắng mặt.
  3. Bà Nguyễn Thị Tuyết T3, sinh năm 1978; nơi cư trú: Số nhà B, đường N, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 29/3/2024, trong lúc Uông Thị Nhật T - sinh năm 1973, trú tại khu phố V, thị trấn D, huyện T, tỉnh Bình Định đang buôn bán hàng tạp hoá ở khu vực gần ga D thuộc khu phố V, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bình Định thì có một người phụ nữ, khoảng 40 tuổi (không rõ nhân thân, lai lịch, nơi ở) cho T số điện thoại của một người phụ nữ ở tỉnh Gia Lai bán thuốc lá điếu không được sản xuất tại Việt Nam. Do trước đó có nhiều khách hàng đến quán tạp hoá của T hỏi mua thuốc lá J, Esse M và Esse C2 nhưng không có nguồn hàng để bán nên khi được người phụ nữ này giới thiệu, T đã ghi lại số điện thoại để liên lạc mua thuốc lá điếu nhập lậu về bán lại kiếm lời.

Đến tối ngày 02/4/2024, Uông Thị Nhật T sử dụng điện thoại gắn sim không đăng ký chính chủ gọi điện thoại cho người phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch) ở tỉnh Gia Lai hỏi mua 250 cây thuốc lá nhãn hiệu Jet, 150 cây thuốc lá nhãn hiệu Esse Menthol và 150 cây thuốc lá nhãn hiệu Esse Change (loại 10 bao/cây) tương ứng với 5.500 bao thuốc lá. Người bán thoả thuận giá thuốc lá nhãn hiệu Jet giá 130.000 đồng/cây (250 cây giá 32.500.000 đồng), thuốc lá nhãn hiệu Esse Menthol giá 130.000 đồng/cây (150 cây giá 19.500.000 đồng) và thuốc lá nhãn hiệu Esse change giá 140.000 đồng/cây (150 cây giá 21.000.000 đồng), tổng cộng 550 cây thuốc lá các loại nêu trên giá 73.000.000 đồng. Người bán giảm cho T 1.000.000 đồng, còn lại 72.000.000 đồng. Sau khi thống nhất địa điểm giao, nhận thuốc lá và tiền tại khu phố V, thị trấn D, huyện T, tỉnh Bình Định vào sáng ngày 03/4/2024, T đưa số điện thoại khác của T là 0869.162.xxx cho người bán để người này đưa lại cho người vận chuyển thuốc lá liên lạc với T để T hướng dẫn địa điểm giao, nhận thuốc lá. Sau khi thoả thuận xong, T xoá nhật ký liên lạc với người bán thuốc lá cho T và huỷ sim không đăng ký chính chủ này.

Đến khoảng 04 giờ sáng ngày 03/4/2024, Võ Văn T1 - sinh năm 1978, trú tại phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai điều khiển xe ô tô biển số 81D-002.45 đến đỗ xe tại đoạn đường N, thành phố P, Gia Lai (gần bến xe liên tỉnh) để nhận vận chuyển hàng hóa khi khách hàng có yêu cầu. Sau đó, một người phụ xe (không rõ nhân thân, lai lịch, nơi ở) của xe khách chạy tuyến Bắc vào T (T1 khai không nhớ biển số xe này) thuê T1 vận chuyển 06 (sáu) thùng cát tông, 05 (năm) bao tải bên trong đựng thuốc lá điếu không được sản xuất tại Việt Nam để giao cho T tại thị trấn D, huyện T, tỉnh Bình Định với tiền cước 920.000 đồng (chín trăm hai mươi nghìn đồng) thì T1 đồng ý. Sau khi thống nhất, người phụ xe giúp T1 khênh 06 (sáu) thùng cát tông và 05 (năm) bao tải bên trong đều đựng thuốc lá lên xe ô tô biển số 81D – 002.45, đưa số điện thoại 0869.162.xxx của T cho T1 để liên lạc với T thống nhất địa điểm giao, nhận thuốc lá và nhận 72.000.000 đồng (bảy mươi hai triệu đồng) từ T về đưa lại cho người này, rồi nhận 920.000 đồng (chín trăm hai mươi nghìn đồng) tiền công vận chuyển thuốc lá. Sau đó, T1 điều khiển xe ô tô chở số thuốc lá trên đi giao cho T.

Khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, T đến nhà của Trần Thị Kim P - sinh năm 1979, trú tại số G đường N, khu phố V, thị trấn D, huyện T, tỉnh Bình Định (có quan hệ họ hàng với T) xin để nhờ các thùng hàng đựng thuốc lá không được sản xuất tại Việt Nam nhưng T nói dối P là để các thùng hàng chứa bánh kẹo nên P đồng ý. Sau đó, T về nhà chuẩn bị sẵn số tiền 72.000.000 đồng (bảy mươi hai triệu đồng) gói trong bì ni lông để đưa cho người vận chuyển thuốc lá gửi lại cho người bán thuốc lá.

Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, T1 điện thoại cho T hỏi địa điểm giao, nhận thuốc lá thì được T hướng dẫn T1 chở thuốc lá đến giao cho T tại số G đường N thuộc khu phố V, thị trấn D, huyện T, tỉnh Bình Định. Đến 08 giờ 30 phút cùng ngày, T1 điều khiển xe ô tô biển số 81D – 002.45 đến đỗ trước cổng nhà của Trần Thị Kim P, mở cửa xe ô tô để giao 550 cây thuốc lá cho T thì bị lực lượng Công an huyện T phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T và T1, thu giữ, tạm giữ 5.500 bao thuốc điếu các loại gồm: Jet, Esse M, Esse C2 cùng với số tiền 72.000.000 đồng (bảy mươi hai triệu đồng) và các đồ vật khác có liên quan đến vụ án, gồm: 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu MERCEDESBENZ, biển số 81D – 002.45, 01 (một) điện thoại di động hiệu S, cảm ứng, vỏ màu đen của Võ Văn T1 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Goho, phím bấm, vỏ màu đen của Uông Thị Nhật T.

Ngày 03/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng giám định số thuốc lá đã tạm giữ. Theo bản kết luận giám định số 720/KL-KTHS ngày 06/4/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận thì 1.500 (một nghìn năm trăm) bao thuốc lá điếu (nhãn hiệu ESSE CHANGE, loại 20 điếu/bao, 10 bao/hộp, các bao còn nguyên vẹn) gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu ESSE CHANGE, không phải là thuốc lá điếu được sản xuất tại Việt Nam (do nước ngoài sản xuất); 1.500 (một nghìn năm trăm) bao thuốc lá điếu (nhãn hiệu ESSE MENTHOL, loại 20 điếu/bao, 10 bao/hộp, các bao còn nguyên vẹn) gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu ESSE MENTHOL, không phải là thuốc lá điếu được sản xuất tại Việt Nam (do nước ngoài sản xuất); 2.500 (hai nghìn năm trăm) bao thuốc lá điếu (nhãn hiệu JET, loại 20 điếu/bao, 10 bao/hộp, các bao còn nguyên vẹn) gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu JET, không phải là thuốc lá điếu được sản xuất tại Việt Nam (do nước ngoài sản xuất). Phân viện Khoa học hình sự tại TP . không đủ cơ sở để kết luận các mẫu thuốc lá điếu mang các nhãn hiệu trên có nguồn gốc, xuất sứ chính xác từ nước nào.

Ngày 22/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu Phòng K Công an tỉnh B giám định số tiền đã tạm giữ của Uông Thị Nhật T. Theo bản kết luận giám định số 187/KL-KTHS ngày 21/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận thì 04 (bốn) tờ tiền VND mệnh giá 500.000 đồng là tiền thật; 200 (hai trăm) tờ tiền VND mệnh giá 200.000 đồng là tiền thật và 300 (ba trăm) tờ tiền VND mệnh giá 100.000 đồng là tiền thật.

Tại Bản cáo trạng số 57/CT-VKS-TP ngày 25 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước truy tố các bị cáo Uông Thị Nhật T về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm b khoản 3 Điều 190 Bộ luật Hình sự và Võ Văn T1 về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Uông Thị Nhật T, Võ Văn T1 như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 190; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Uông Thị Nhật T từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”.

- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 56 Bộ luật hình sự 2015; đề nghị xử phạt bị cáo Võ Văn T1 từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù về tội “Vận chuyển hàng cấm”, tổng hợp với 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án 29/9/2022, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo Bản án số 157/2022/HSST ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy vật chứng đang thu giữ không còn giá trị sử dụng gồm:

  • -03 (ba) thùng carton có kích thước (54x28x30)cm, trên miệng thùng có in chữ ESSE CHANGE (bên trong 03 (ba) thùng carton còn lại 1400 bao thuốc lá điếu sau giám định).
  • - 03 (ba) thùng carton có kích thước (54x28,5x30)cm, trên miệng thùng có in chữ ESSE MENTHOL (bên trong 03 (ba) thùng carton còn lại 1400 bao thuốc lá điếu sau giám định).
  • - 05 (năm) bao tải màu xanh, tại miệng mỗi bao tải được niêm phong bằng giấy trắng (bên trong 05 (năm) bao tải còn lại 2.350 bao thuốc lá điếu sau giám định).

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:

  • - Số tiền 72.000.000đồng mục đích để mua hàng cấm đang thu giữ.
  • - 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu MERCEDESBENZ, biển kiểm soát 81D-002.45, không kiểm tra chất lượng bên trong (của Võ Văn T1); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Goho, phím bấm, vỏ màu đen, không kiểm tra chất lượng bên trong (của Uông Thị Nhật T); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, cảm ứng, vỏ màu đen, không kiểm tra chất lượng bên trong (của Võ Văn T1) là vật chứng sử dụng vào việc phạm tội còn giá trị kinh tế.

Các bị cáo Uông Thị Nhật T, Võ Văn T1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu và các chứng cứ mà cơ quan cảnh sát điều tra đã thu thập.

Trong lời nói sau cùng, các bị cáo Uông Thị Nhật T, Võ Văn T1 nhận thức được hành vi của các bị cáo là sai, các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố bảo đảm tính hợp pháp về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Các bị cáo Uông Thị Nhật T và Võ Văn T1 là những người đã thành niên, có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; lời khai nhận tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố đồng thời phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng nên có đủ cơ sở để khẳng định: Vào ngày 02/3/2024, bị cáo Uông Thị Nhật T đã có hành vi liên lạc với một người phụ nữ không rõ nhân thân, lai lịch ở tỉnh Gia Lai mua 5.500 bao thuốc lá không phải là thuốc lá điếu được sản xuất tại Việt Nam với số tiền 72.000.000 (bảy mươi hai triệu đồng) nhằm mục đích bán lại kiếm lời. Đến ngày 03/4/2024, bị cáo Võ Văn T1 sử dụng xe ô tô biển số 81D – 002.45 vận chuyển thuê 5.500 bao thuốc lá điếu nhập lậu trên từ tỉnh Gia Lai đến khu phố V, thị trấn D, huyện T, tỉnh Bình Định giao cho bị cáo Uông Thị Nhật T để nhận tiền công là 920.000 đồng (chín trăm hai mươi nghìn đồng). Khi bị cáo Võ Văn T1 đang giao 5.500 bao thuốc lá điếu nhập lậu trên cho bị cáo Uông Thị Nhật T tại khu phố V, thị trấn D, huyện T, tỉnh Bình Định thì bị Công an huyện T bắt quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật. Số lượng thuốc lá điếu bị cáo T mua bán nhằm mục đích để bán kiếm lời và bị cáo T1 vận chuyển là “5.500 bao thuốc điếu các loại gồm: Jet, Esse M, Esse C2 không phải là thuốc lá điếu được sản xuất tại Việt Nam (do nước ngoài sản xuất) không đủ cơ sở để kết luận các mẫu thuốc lá điếu mang các nhãn hiệu trên có nguồn gốc, xuất sứ chính xác từ nước nào” được xác định tại bản kết luận giám định số 720/KL-KTHS ngày 06/4/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận nên hành vi nêu trên của bị cáo Uông Thị Nhật T đã phạm vào tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 190 Bộ luật Hình sự; bị cáo Võ Văn T1 phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi do các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, cụ thể là: Xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng hóa; cũng như trật tự an toàn xã hội. Vì vậy, phải xử phạt nghiêm mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Trong vụ án có nhiều bị cáo tham gia, không có sự cấu kết kết chặt chẽ giữa các đồng phạm nên các bị cáo phạm tội với vai trò giản đơn, xét vai trò của từng bị cáo thì thấy, bị cáo Uông Thị Nhật T dùng tiền để trao đổi mua bán thuốc lá không phải là thuốc lá điếu được sản xuất tại Việt Nam để nhằm mục đích thu lợi bất chính; bị cáo Võ Văn T1 nhận tiền để đưa hàng cấm là thuốc lá không phải là thuốc lá điếu được sản xuất tại Việt Nam từ tỉnh Gia Lai đến khu phố V, thị trấn D, huyện T, tỉnh Bình Định nên phải xử phạt các bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi của từng bị cáo.

[4] Xét về nhân thân; tình tiết tăng nặng; giảm nhẹ của các bị cáo thì thấy:

Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện; ăn năn hối cải về hành vi phạm tội do mình gây ra. Bị cáo T có ông nội là liệt sĩ, bà nội có công cách mạng được tặng huy chương kháng chiến hạng nhì, ông ngoại có công cách mạng được tặng huân chương độc lập hạng ba, gia đình bị cáo đang gặp khó khăn (Có xác nhận của chính quyền địa phương); bị cáo T1 là lao động chính nuôi các con đang tuổi ăn học nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo T1 phạm tội trong thời gian thử thách của án treo nên phải xử phạt nghiêm mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo. Vì các bị cáo có khó khăn về kinh tế nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[5] Xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ: Số tiền 72.000.000đồng của bị cáo Trang mục Đ để thanh toán tiền mua thuốc lá điếu lậu; 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu MERCEDESBENZ, biển kiểm soát 81D-002.45, không kiểm tra chất lượng bên trong (của Võ Văn T1); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Goho, phím bấm, vỏ màu đen, không kiểm tra chất lượng bên trong (của Uông Thị Nhật T); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, cảm ứng, vỏ màu đen, không kiểm tra chất lượng bên trong (của Võ Văn T1); 03 (ba) thùng carton có kích thước (54x28x30)cm, trên miệng thùng có in chữ ESSE CHANGE (bên trong 03 (ba) thùng carton còn lại 1400 bao thuốc lá điếu sau giám định); 03 (ba) thùng carton có kích thước (54x28,5x30)cm, trên miệng thùng có in chữ ESSE MENTHOL (bên trong 03 (ba) thùng carton còn lại 1400 bao thuốc lá điếu sau giám định); 05 (năm) bao tải màu xanh, tại miệng mỗi bao tải được niêm phong bằng giấy trắng (bên trong 05 (năm) bao tải còn lại 2.350 bao thuốc lá điếu sau giám định). Xét thấy, số thuốc lá điếu lậu là hàng cấm nên tịch thu tiêu hủy kể cả vỏ bao bì; số tiền đang thu giữ mục đích để thanh toán tiền mua thuốc lá điếu lậu; 02 điện thoại là vật chứng thực hiện vào việc phạm tội còn giá trị sử dụng nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước; xe ô tô nhãn hiệu MERCEDESBENZ, biển kiểm soát 81D-002.45 là tài sản cá nhân của vợ chồng bị cáo Võ Văn T1 nên trả lại cho bị cáo T1.

[6] Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.

[7] Về vấn đề khác: Trong vụ án này, bà Trần Thị Kim P cho bị cáo Uông Thị Nhật T để nhờ số thuốc lá điếu nhập lậu nhưng bà P không biết đó là số thuốc lá điếu nhập lậu nên không phạm tội.

Lời luận tội của Kiểm sát viên về hành vi và tội danh, về nhân thân và các tình tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 190; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Uông Thị Nhật T;

Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 191; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 56 Bộ luật hình sự 2015 đối với bị cáo Võ Văn T1;

Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Uông Thị Nhật T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”; bị cáo Võ Văn T1 phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”;

2. Về hình phạt:

2.1 Xử phạt bị cáo Uông Thị Nhật T từ 08 (tám) năm tù về tội “Buôn bán hàng cấm”, được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/4/2024 đến ngày 09/5/2024; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.

2.2 Xử phạt bị cáo Võ Văn T1 05 (năm) năm tù về tội “Vận chuyển hàng cấm”, tổng hợp với 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án 29/9/2022, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo Bản án số 157/2022/HSST ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 06 (sáu) năm tù, được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/4/2024 đến ngày 09/5/2024; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.

3. Xử lý vật chứng:

3.1 Tịch thu tiêu hủy:

  • - 03 (ba) thùng carton có kích thước (54x28x30)cm, trên miệng thùng có in chữ ESSE CHANGE, được niêm phong bằng giấy trắng, trên giấy có hình dấu tròn màu đỏ của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng và chữ ký của Nguyễn Đình H, Thái Vũ Thanh T5 (bên trong 03 (ba) thùng carton còn lại 1400 bao thuốc lá điếu sau giám định).
  • - 03 (ba) thùng carton có kích thước (54x28,5x30)cm, trên miệng thùng có in chữ ESSE MENTHOL, được niêm phong bằng giấy trắng, trên giấy có hình dấu tròn màu đỏ của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng và chữ ký của Nguyễn Đình H, Thái Vũ Thanh T5 (bên trong 03 (ba) thùng carton còn lại 1400 bao thuốc lá điếu sau giám định).
  • - 05 (năm) bao tải màu xanh, tại miệng mỗi bao tải được niêm phong bằng giấy trắng, trên giấy có hình dấu tròn màu đỏ của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng và chữ ký của Nguyễn Đình H, Thái Vũ Thanh T5 (bên trong 05 (năm) bao tải còn lại 2.350 bao thuốc lá điếu sau giám định).

Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05 tháng 8 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

3.2 Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:

  • - Số tiền 72.000.000 đồng (Bảy mươi hai triệu đồng). Hiện Kho bạc Nhà nước T6, tỉnh Bình Định đang tạm giữ theo Công văn số 451/CV-ĐCSKT-MT ngày 10 tháng 6 năm 2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Bình Định và Biên bản giao nhận tài sản số 13/2024/BBBG-CATP ngày 11 tháng 6 năm 2024.
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Goho, phím bấm, vỏ màu đen, không kiểm tra chất lượng bên trong (của Uông Thị Nhật T);
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, cảm ứng, vỏ màu đen, không kiểm tra chất lượng bên trong (của Võ Văn T1);

Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05 tháng 8 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

3.3 Trả lại cho bị cáo Võ Văn T1:

  • - 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu MERCEDESBENZ, biển kiểm soát 81D-002.45, không kiểm tra chất lượng bên trong (của Võ Văn T1).

Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05 tháng 8 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

4. Án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Định;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Phước;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Tuy Phước;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phước;
  • - Ủy ban nhân dân nơi các bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo, đương sự;
  • - Lưu: Văn thư, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Cẩm Tú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH về hình sự sơ thẩm (buôn bán hàng cấm và vận chuyển hàng cấm)

  • Số bản án: 67/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Buôn bán hàng cấm và Vận chuyển hàng cấm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước truy tố các bị cáo Uông Thị Nhật Trang về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm b khoản 3 Điều 190 Bộ luật Hình sự.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger