|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 67/2024/HS-ST Ngày 30-8-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phan Văn Thà.
- Ông Nguyễn Phú Hải.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Đang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Đăng Kha – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 67/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Võ Thị D, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1972 tại Campuchia; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ văn hóa (học vấn): không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn K (đã chết) và bà Nguyễn Thị N; có chồng tên Nguyễn Đình H và 03 người con; tiền án: Bản án Hình sự sơ thẩm số 52/2012/HS-ST ngày 06/6/2012 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên xử phạt 5.000.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước về tội “Đánh bạc”; Bản án hình sự sơ thẩm số 104/2020/HS-ST ngày 19/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên xử phạt 35.000.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước về tội “Đánh bạc”; tiền sự: không có; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh từ ngày 03/5/2024 đến nay; có mặt.
2. Nguyễn Thành N1, sinh ngày 20 tháng 02 năm 1988 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 (đã chết) và bà Ngô Thị S; vợ, con: chưa có; tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2023/HS-ST ngày 21/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên xử phạt 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”, tiền sự: không có; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh từ ngày 03/5/2024 đến nay; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Lê Thị T, sinh năm 1971, địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 04/01/2024, Võ Thị D, Nguyễn Thành N1, Phạm Văn T1, sinh năm 1973, Khúc Mạnh C, sinh năm 1984, Phan Thị H2, sinh năm 1975, Huỳnh Thị N2, sinh năm 1973 và Nguyễn Thị H3, sinh năm 1979, cùng địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh đến nhà của Lê Thị T, sinh năm 1971, địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền. Thủy cung cấp bài, bán nước cho những người tham gia và thu tiền xâu. 08 đối tượng chia thành 02 chiếu bạc hình thức bài ù và bài câu cá. Đến khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, Công an xã T tiến hành kiểm tra phát hiện 02 chiếu bạc đang hoạt động, cụ thể như sau:
Chiếu bạc hình thức bài ù: Nguyễn Thành N1, Lê Thị T, Phạm Văn T1 và Khúc Mạnh C tham gia đánh bạc, quy định người thắng nhất được người thua cuối cùng trả số tiền 50.000 đồng, người đứng thứ 2 được người đứng thứ 3 trả số tiền 30.000 đồng. Trường hợp ù thì người thắng nhất được 80.000 đồng, người đứng thứ 2 được 20.000 đồng, người đứng thứ 3 trả 40.000 đồng, người thua cuối trả 60.000 đồng. Trường hợp có người ù phạt thì được người đánh bài cho người đó ù trả 180.000 đồng, 02 người còn lại không phải trả tiền. Quy định ù phạt trả 20.000 đồng, ù thường trả 10.000 đồng tiền bài. Thu trên người các đối tượng 1.410.000 đồng cùng tài sản, đồ vật khác. Số tiền dùng đánh bạc của từng người chơi như sau:
- Nguyễn Thành N1 sử dụng 175.000 đồng tham gia đánh bạc, khi phát hiện bị cáo thắng 105.000 đồng, thu trên người 280.000 đồng.
- Lê Thị T sử dụng 60.000 đồng tham gia đánh bạc, quá trình đánh bạc nhận 20.000 đồng tiền bài, khi phát hiện bị cáo thua hết tiền.
- Khúc Mạnh C sử dụng 1.000.000 đồng tham gia đánh bạc, khi phát hiện bị cáo không thắng không thua, thu trên người 1.000.000 đồng.
- Phạm Văn T1 sử dụng 130.000 đồng tham gia đánh bạc, khi phát hiện bị cáo không thắng không thua, thu trên người 130.000 đồng.
Chiếu bạc hình thức bài câu cá: Võ Thị D, Phan Thị H2, Nguyễn Thị H3, Huỳnh Thị N2 tham gia đánh bạc, quy định lá bài “A” rô và “A” cơ là 20 điểm; “A” chuồn và “A” bích là 05 điểm; lá bài 9, 10, tây là 10 điểm; các lá bài từ 2 đến 8 có số điểm tương đương số trên lá bài. Người chơi có số điểm là 55 điểm thì hòa, người có số điểm trên 55 điểm là thắng và tính tiền thắng thua với người có số điểm dưới 55 điểm. Quy định một điểm là 1.000 đồng, người chơi có số điểm trên 90 là thắng “Núi” được 70.000 đồng do 03 người chơi còn lại cộng và trả tiền. Người thắng núi phải bỏ ra 10.000 đồng trả tiền bài cho T. Thu trên người các đối tượng 406.000 đồng cùng tài sản, đồ vật khác. Số tiền dùng đánh bạc của từng người chơi như sau:
- Võ Thị D sử dụng 200.000 đồng tham gia đánh bạc, khi phát hiện bị cáo thua 64.000 đồng, thu trên người 136.000 đồng.
- Huỳnh Thị N2 sử dụng 270.000 đồng tham gia đánh bạc, khi phát hiện bị cáo thắng 70.000 đồng, thu trên người 270.000 đồng.
- Nguyễn Thị H3 sử dụng 200.000 đồng tham gia đánh bạc, khi phát hiện bị cáo thua hết tiền.
- Phan Thị H2 sử dụng 200.000 đồng tham gia đánh bạc, khi phát hiện bị cáo thua hết tiền.
Tại cơ quan điều tra Võ Thị D, Nguyễn Thành N1 đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Kết luận giám định số 980/KL-KTHS ngày 28/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: 05 (năm) tờ tiền Việt Nam đồng (loại Polymer) mệnh giá 200.000; 01 (một) tờ tiền Việt Nam đồng (loại Polymer) mệnh giá 100.000; 09 (chín) tờ tiền Việt Nam đồng (loại Polymer) mệnh giá 50.000; 05 (năm) tờ tiền Việt Nam đồng (loại Polymer) mệnh giá 20.000; 05 (năm) tờ tiền Việt Nam đồng (loại Polymer) mệnh giá 10.000; 14 (mười bốn) tờ tiền Việt Nam đồng (loại Cotton) mệnh giá 5.000; 16 (mười sáu) tờ tiền Việt Nam đồng (loại Cotton) mệnh giá 2.000; 14 (mười bốn) tờ tiền Việt Nam đồng (loại Cotton) mệnh giá 1.000 cần giám định nêu trên là tiền thật.
Cáo trạng số 63/CT-VKSTB ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Võ Thị D, Nguyễn Thành N1 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Võ Thị D, Nguyễn Thành N1 phạm tội “Đánh bạc”;
- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Võ Thị D từ 06 (sáu) tháng tù đến 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thành N1 từ 06 (sáu) tháng tù đến 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”.
Căn cứ Điều 56 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ tại Bản án hình sự thẩm số 61/2023/HS-ST ngày 21/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên khấu trừ thời gian đã chấp hành.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Căn cứ các điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo D, N1 thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên đã truy tố, không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo D, N1 nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến và không khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo thể hiện: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 04/01/2024, tại nhà của Lê Thị T, địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, 08 đối tượng chia thành hai chiếu bạc có hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền dưới hình thức chơi bài ù và bài câu cá. Cụ thể:
Chiếu bạc hình thức bài ù: Nguyễn Thành N1, Lê Thị T, Phạm Văn T1 và Khúc Mạnh C tham gia đánh bạc. Số tiền sử dụng đánh bạc thu trên người các đối tượng là 1.410.000 đồng.
Chiếu bạc hình thức bài câu cá: Võ Thị D, Phan Thị H2, Nguyễn Thị H3, Huỳnh Thị N2 tham gia đánh bạc. Số tiền sử dụng đánh bạc thu trên người các đối tượng là 406.000 đồng.
Võ Thị D, Nguyễn Thành N1 đã bị kết án về tội “Đánh bạc”, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 63/CT-VKSTB ngày 31/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố các bị cáo có căn cứ. Tuy nhiên cáo trạng truy tố số tiền dùng đánh bạc 870.000 đồng đối với chiếu bạc hình thức bài câu cá căn cứ lời khai của từng người tham gia đánh bạc là không phù hợp. Bởi lẽ tiền đánh bạc được xác định gồm tiền thu giữ trực tiếp tại chiếu bạc, thu giữ trong người các con bạc và ở những nơi khác mà có căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc. Khi bị phát hiện, tại chiếu bạc hình thức bài câu cá thu trên người các con bạc là 406.000 đồng; các con bạc đều xác định sử dụng số tiền này dùng đánh bạc. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên truy tố số tiền đánh bạc là không phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Căn cứ Điều 298 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án mà không cần thiết phải trả hồ sơ để truy tố lại.
[3] Tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Vụ án mang tính chất ít nghiêm nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn công cộng. Các bị cáo đều là người đã thành niên, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức, điều khiển hành vi nhưng vì mục đích thu lợi bất hợp pháp, muốn có tiền sử dụng, bị cáo thực hiện hành vi của mình với lỗi cố ý. Mặt khác, tình hình tội phạm liên quan đến đánh bạc đang là một tệ nạn xã hội gây mất trật tự trị an tại địa phương, ảnh hưởng đến cuộc sống của cá nhân và gia đình; là nguyên nhân phát sinh tệ nạn xã hội, các loại tội phạm khác. Để thực hiện tốt việc tuyên truyền, đấu tranh, phòng ngừa, ngăn chặn tệ nạn đánh bạc đang diễn biến phức tạp tại địa phương cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa tội phạm; cải tạo, giáo dục các bị cáo thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đã thành khẩn khai báo đầy đủ, đúng sự thật những tình tiết liên quan đến hành vi phạm tội đã thực hiện. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
[6] Nhân thân: Các bị cáo có nhân thân xấu từng bị kết án về tội đánh bạc. nhưng không sửa chữa sai phạm của mình thể hiện ý thức chấp hành pháp luật không nghiêm.
[7] Hình phạt áp dụng:
[7.1] Hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo xét thấy; các bị cáo đã từng bị kết án, xử phạt hình phạt tiền, cải tạo không giam giữ về tội đánh bạc nhưng không sửa chữa. Bị cáo N1 phạm tội trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Nhận thấy các hình phạt khác không có tác dụng răn đe, căn cứ Điều 38 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội, đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa tội phạm.
Bị cáo N1 đang phải chấp hành hình phạt 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ tại Bản án hình sự thẩm số 61/2023/HS-ST ngày 21/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới. Căn cứ khoản 2 Điều 56 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử tổng hợp và quyết định hình phạt chung đối với bị cáo. Xét thấy các hình phạt chính đã tuyên là cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn nên hình phạt cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành hình phạt tù theo tỷ lệ cứ 03 ngày cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành 01 ngày tù. Bị cáo N1 bị xử phạt 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ, đã chấp hành được 10 tháng 04 ngày, còn phải chấp hành 07 tháng 27 ngày được chuyển đổi thành 02 tháng 19 ngày tù. Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử tổng hợp cộng thành hình phạt chung đối với bị cáo.
[7.2] Hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp, công việc nhất định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[8] Biện pháp tư pháp: Căn cứ các điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- 09 bộ bài tây; 01 nệm vải; 01 cái mền là vật chứng của vụ án và không có giá trị sử dụng, Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.
- Tiền Việt Nam 1.816.000 đồng thu giữ trong người các bị cáo và những người tham gia đánh bạc là vật chứng trong vụ án sử dụng để thực hiện hành vi đánh bạc trái phép; Hội đồng xét xử tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- 01 điện thoại di động là tài sản hợp pháp của bị cáo N1; không phải là vật chứng trong vụ án, Hội đồng xét xử trả cho chủ sở hữu hợp pháp.
[9] Hành vi đánh bạc trái phép của Khúc Mạnh C, Phạm Văn T1, Huỳnh Thị N2, Nguyễn Thị H3, Phan Thị H2 và hành vi dùng địa điểm do mình quản lý để chứa chấp việc đánh bạc của Lê Thị T, Trưởng Công an xã T và Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.
[10] Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các bị cáo D, Nam mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Võ Thị D, Nguyễn Thành N1 phạm tội “Đánh bạc”.
1.1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Võ Thị D 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
1.2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành N1 06 (sáu) tháng tù. Căn cứ các điều 55, 56 của Bộ luật Hình sự, chuyển đổi 07 tháng 27 ngày cải tạo không giam giữ còn phải chấp hành theo Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2023/HS-ST ngày 21/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh thành 02 (hai) tháng 19 (mười chín) ngày tù.
Tổng hợp hình phạt bị cáo Nguyễn Thành N1 phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 08 (tám) tháng 19 (mười chín) ngày tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
2. Biện pháp tư pháp: Căn cứ các điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước tiền Việt Nam 1.816.000 (một triệu tám trăm mười sáu nghìn) đồng kèm theo Kết luận giám định số 980/KL-KTHS ngày 28/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T và được đựng trong bì thư niêm phong theo quy định.
- Tịch thu tiêu hủy: 09 (chín) bộ bài tây đã qua sử dụng; 01 (một) nệm vải màu hồng cam có chữ L đã qua sử dụng; 01 (một) cái mền đã qua sử dụng.
- Trả cho bị cáo Nguyễn Thành N1 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen số Imei 862446062850112 đã qua sử dụng.
(Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T và có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/8/2024.
Trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án thì Chấp hành viên xử lý tiền, tài sản đó để đảm bảo thi hành án theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự;
Trường hợp người phải thi hành án đã tự nguyện thi hành án xong thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định trả lại tiền, tài sản tạm giữ theo quy định tại đoạn 1 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự).
3. Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo Võ Thị D, Nguyễn Thành N1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoàng Hải |
Bản án số 67/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH về tội đánh bạc (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 67/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội Đánh bạc (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Võ Thị D 06 tháng tù, bị cáo Nguyễn Thành N1 06 tháng tù
