Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẠC LIÊU

TỈNH BẠC LIÊU

Bản án số: 67/2024/DS-ST

Ngày 15-8-2024

V/v tranh chấp hợp đồng

vay tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Hồng Trinh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Tuấn Kiệt
  2. Ông Lê Trường Hận

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Trang– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Trần Mỹ Linh– Kiểm sát viên.

Vào ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 174/2024/TLST-DS ngày 23 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp "Hợp đồng vay tài sản", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2024/QĐXX-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 85/2024/QĐST-DS ngày 22/7/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tường N, sinh năm 1987. Địa chỉ: Số nhà A N, khóm E, phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

Bị đơn: Bà Trần Thị Kim C, sinh năm 1964. Địa chỉ: Số D Đ, khóm F, phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

(Ông N và bà C vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 05/4/2024, các lời trình bày trong quá trình tố tụng tại Tòa án, ông Nguyễn Tường N là nguyên đơn trong vụ án trình bày: Vào ngày 05/10/2022, bà Trần Thị Kim C có vay của ông số tiền 200.000.000 đồng, khi vay có làm biên nhận đề ngày 05/10/2022, ông đã giao đủ tiền cho bà C, có thoả thuận lãi suất hai là 20%/năm tuy nhiên không có thể hiện trong biên nhận. Hứa là cuối năm 2022 sẽ trả vốn, đóng lãi hàng tháng. Tuy nhiên, sau khi vay thì bà C chỉ trả lãi được đến ngày 06/10/2023 thì bà C không trả lãi cho ông đến nay, quá trình trả lãi thì ông đến nhà bà C lấy tiền tại nhà bà C. Đồng thời đến nay bà C chưa thanh toán số tiền vốn nào cho ông. Trong đơn khởi kiện thì ông N yêu cầu lãi suất là 20%/năm nhưng nay ông thay đổi ý kiến, ông chỉ yêu cầu lãi suất là 10%/năm với yêu cầu cụ thể như sau: Yêu cầu bà Trần Thị Kim C phải trả số tiền vốn vay là 200.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi suất 10%/năm tính từ ngày 06/10/2023 cho đến khi giải quyết xong vụ án, tạm tính đến ngày 17/6/2024 là 13.320.000 đồng, không yêu cầu gì khác.

Trong quá trình tố tụng tại Toà, bị đơn bà Trần Thị Kim C đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Toà nhưng bà không đến tham gia tố tụng và không có ý kiến trình bày.

Tại phiên tòa:

+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu phát biểu quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, từ khi thụ lý đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nên Viện kiểm sát không có kiến nghị gì.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn số tiền vốn vay là 200.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi suất 10%/năm tính từ ngày 06/10/2023 cho đến ngày xét xử sơ thẩm là 17.166.500 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và quan điểm phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu. Hội đồng xét xử nhận định nội dung vụ kiện như sau:

  1. Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn có yêu cầu bị đơn là trả nợ vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Bị đơn có nơi cư trú tại thành phố B, tỉnh Bạc Liêu nên theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
  2. Sự vắng mặt của nguyên đơn và bị đơn: Ông N có đơn xin vắng mặt, bà C đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  3. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tổng số tiền vốn vay là 200.000.000 đồng.

Xét Biên nhận đề ngày 5/10/2022 do nguyên đơn cung cấp có thể hiện chữ ký và đề tên người mượn Trần Thị Kim C có thể hiện nội dung:

“ Hôm nay ngày 5/10/2022 dl.

Tôi tên Trần Thị Kim C, Hiện ngụ tại số nhà D, khóm F, phường C, thành phố B. Có mượn của Anh Nguyễn Tường N chứng minh số [...] cấp ngày 11/4/2019 số tiền là: 200.000.000 (Hai trăm triệu)”

Thấy rằng: Nội dung biên nhận thể hiện thông tin địa chỉ của bà C phù hợp với xác nhận thông tin về cư trú ngày 19/7/2024 của Công an phường C1 thành phố Bạc Liêu và Biên bản xác minh ngày 19/7/2024 do Trưởng khóm F, phường C, thành phố B cung cấp thể hiện bà Trần Thị Kim C có đang ở tại nhà số nhà D Đ, khóm F, phường C, thành phố B. Toà án đã tiến hành tống đạt cho bà C biết về nội dung yêu cầu khởi kiện của ông N cùng các tài liệu chứng cứ nhưng bà C không có ý kiến phản đối do đó căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định vào ngày 05/10/2022, bà Trần Thị Kim C có vay của ông Nguyễn Tường N số tiền vốn vay là 200.000.000 đồng.

Nguyên đơn trình bày từ khi vay đến nay phía bị đơn chưa thanh toán số tiền vốn vay nào cho nguyên đơn, phía bị đơn không có ý kiến phản đối, vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu trả số tiền vốn vay của nguyên đơn.

  1. Xét yêu cầu trả số tiền lãi tính kể từ ngày 06/10/2023 cho đến khi giải quyết xong với lãi suất là 10%/năm, tạm tính đến ngày 17/6/2024 là 13.320.000 đồng, thấy rằng: Mặc dù nội dung Biên nhận đề ngày 5/10/2022 không thể hiện lãi suất nhưng nguyên đơn trình bày bị đơn có trả lãi cho nguyên đơn theo lãi suất là 20%/năm đến ngày 06/10/2023 thì ngưng không trả lãi cho đến nay. Bị đơn đã được thông báo nội dung này nhưng không có ý kiến phản đối nên Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến này của nguyên đơn, xác định đây là khoản vay có lãi và lãi suất đã thực hiện không vượt quá quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự nên không phải điều chỉnh lại. Tuy nhiên, đối với yêu cầu trả tiền lãi của nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền lãi tính từ ngày 06/10/2023 cho đến khi giải quyết xong với lãi suất là 10%/năm là phù hợp với khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 nên có cơ sở chấp nhận. Vì vậy, số tiền lãi mà bị đơn cần phải thanh toán cho nguyên đơn cụ thể như sau:

Từ ngày 06/10/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 15/8/2024) là 10 tháng 09 ngày x 10%/năm x 200.000.000 đồng = 17.166.500 đồng.

Ngoài ra, căn cứ Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015, bị đơn còn phải chịu tiền lãi chậm trả trong giai đoạn thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  1. Như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
  2. Về án phí: Bị đơn có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn tổng số tiền nợ là 217.166.500 đồng nên phải chịu án phí là 10.858.000 đồng. Nguyên đơn không phải chịu án phí.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 2 Điều 92; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015;

- Căn cứ vào Điều 357; Điều 463; Điều 466; Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tường N đối với bà Trần Thị Kim C về việc tranh chấp vay tài sản.
    • - Buộc bà Trần Thị Kim C có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Tường N số tiền nợ vay là 217.166.500 đồng (Hai trăm mười bảy triệu một trăm sáu mươi sáu ngàn năm trăm đồng), trong đó nợ gốc là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) và nợ lãi là 17.166.500 đồng (Mười bảy triệu một trăm sáu mươi sáu ngàn năm trăm đồng).
    • - Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền trên, người phải thi hành án còn phải chịu thêm tiền lãi của số tiền nợ gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
  2. Về án phí: Bà Trần Thị Kim C phải chịu án phí là 10.858.000 đồng (Mười triệu tám trăm năm mươi tám ngàn đồng).

Ông Nguyễn Tường N không phải chịu án phí. Ông N đã nộp tiền tạm ứng án phí số tiền 5.500.000 đồng (Năm triệu năm trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0002604 ngày 23/4/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu, được hoàn lại toàn bộ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • -VKSND Tp. Bạc Liêu;
  • -CCTHADS Tp. Bạc Liêu;
  • -Đương sự;
  • -Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Hồng Trinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2024/DS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 67/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Tường N dòi nợ bà Nguyễn Thị Ngọc C
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger