|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 67/2024/DS-PT Ngày 24/6/2024 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Chí Công
Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Thưởng
Bà Đinh Thị Như Phượng
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Trà My, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai: Bà Hoàng Hải Ly - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 24 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 22/2024/TLPT-DS ngày 12 tháng 3 năm 2024 về "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản".
Do bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 26 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 64/2024/QĐ-PT ngày 15 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2024/QĐ-PT ngày 14 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2024/QĐ-PT ngày 03 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Bích D; địa chỉ: thôn H, thị trấn N, huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt
- Bị đơn: Ông Huỳnh S và bà Nguyễn Thị T ; cùng địa chỉ: thôn H, thị trấn N, huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Võ Thị Thu N; địa chỉ: KV A, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định. Vắng mặt
- Người kháng cáo: bị đơn ông Huỳnh S và bà Nguyễn Thị T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Nguyên đơn bà Trần Thị Bích D trình bày: Ngày 08/8/2022, ông Huỳnh S cùng với vợ là Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị L có vay của bà D số tiền 250.000.000đ với lãi suất ban đầu là 2.000 đồng/triệu/ngày, sau đó thỏa thuận lại là 1.500 đồng/triệu/ngày và hẹn đến ngày 19/8/2022 trả đủ gốc và lãi cho bà D. Đến ngày 20/11/2022, ông S, bà T không có tiền trả lãi cho bà D nên đã xác nhận nợ 38.000.000 đồng tiền lãi. Tổng cộng số tiền ông S, bà T, bà L nợ là 288.000.000 đồng. Bà D đã nhiều lần đòi nợ nhưng ông S, bà T và bà L không trả tiền cho bà D. Ngày 12/6/2023, bà D đã gửi Thông báo đòi nợ cho ông S, bà T và bà L để đòi nợ nhưng vẫn không chịu trả cho bà D. Nay bà D yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai giải quyết: Buộc bà T, ông S và bà L có nghĩa vụ liên đới trả cho bà D số tiền nợ gốc 250.000.000 đ, tiền lãi kể từ ngày vay tính đến ngày 20/11/2022 là 38.000.000 đồng, tiền lãi kể từ ngày 20/11/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm với mức lãi suất là 1,66%/tháng của số tiền gốc 250.000.000, tạm tính đến ngày khởi kiện là 50.000.000đ. Đây là số tiền riêng của bà D, ông Đặng Văn V là chồng của bà D không liên quan đến việc vay mượn tiền giữa bà D với bà T, ông S và bà L. Đề nghị không đưa chồng của bà D là ông Đặng Văn V vào tham gia tố tụng trong vụ án này. Ông V cũng có văn bản đồng ý với ý kiến của bà D. Tại phiên tòa bà D thay đổi yêu cầu khởi kiện: yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn là ông S, bà T, bà L có nghĩa vụ liên đới trả cho bà D số tiền nợ gốc là 250.000.000 đồng và tiền nợ lãi tính từ ngày 08/8/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm (làm tròn là 17 tháng), với mức lãi suất là 1,66%/tháng, là 70.550.000 đồng. Tổng cộng gốc và lãi là 320.550.000₫.
* Bị đơn ông Huỳnh S, bà Nguyễn Thị T trình bày: Ngày 08/8/2022, bà Nguyễn Thị T có mượn bà D số tiền 350.000.000 đồng, hai bên thỏa thuận tiền lãi là 2.000 đồng/triệu/ngày. Thời hạn vay là từ ngày 08/8/2022 đến ngày 19/8/2022. Mục đích bà T vay tiền là vay dùm cho bà Võ Thị Thu N. Bà T không trực tiếp nhận số tiền 350.000.000 đồng mà bà D chuyển khoản số tiền 350.000.000 cho bà Võ Thị Thu N. Thời gian sau đó, bà D thúc giục vợ chồng bà T, ông S trả tiền, nên bà T nhờ mẹ của bà T là bà Nguyễn Thị L trả cho bà D số tiền 100.000.000đ. Bà D giữ bà T lại nhà bà D và bắt bà Nguyễn Thị L ký vào giấy mượn tiền đề ngày 08/8/2022. Nên bà L phải ký vào giấy mượn tiền nêu trên. Sau đó bà D bảo bà T xuống gặp bà Võ Thị Thu N cầm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà N thế chấp cho bà D để bà D và bà N tự giải quyết về số tiền nợ 250.000.000 đồng với nhau. Nên vào ngày 20/11/2022, bà T mang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà N lên nhà và đưa cho bà D. Bà D đưa ra Giấy cam kết trả nợ đề ngày 20/11/2022 và bảo bà T ký nhận vào. Vợ chồng bà T, ông S có nguyện vọng bán thửa đất mang tên bà N để trả nợ cho bà D và để bà T, ông S lại lấy số tiền mà bà N nợ. Hiện nay gia đình ông S, bà T gặp khó khăn nên không có tiền trả cho bà D, theo yêu cầu khởi kiện của bà D.
* Bị đơn bà Nguyễn Thị L trình bày: Bà L không biết sự việc vay mượn tiền giữa con gái bà L là Nguyễn Thị T và bà D, sau khi bà D đến nhà bà T đòi nợ nhiều lần thì bà L mới biết sự việc giữa bà T và bà D có vay mượn tiền với nhau. Sự việc vay mượn giống như bà T đã trình bày như sau: Ngày 08/8/2022, bà Nguyễn Thị T có mượn bà D số tiền 350.000.000 đồng, hai bên thỏa thuận tiền lãi là 2.000 đồng/triệu/ngày. Thời hạn vay là từ ngày 08/8/2022 đến ngày 19/8/2022. Mục đích vay tiền là vay dùm cho bà Võ Thị Thu N. Khoảng 10 ngày sau khi vay tiền, bà L thấy bà D liên tục thúc giục vợ chồng con gái bà L trả tiền, nên bà L đã cho con gái là bà T mượn 100.000.000 đồng để trả cho bà D. Sau khi bà L trực tiếp đưa tiền 100.000.000 đồng cho bà D thì bà D giữ bà L lại nhà bà D và bắt bà L ký vào giấy mượn tiền đề ngày 08/8/2022. Nên bà L phải ký vào giấy mượn tiền nêu trên, sự việc bà D bắt bà L ký vào giấy mượn tiền có chồng của bà là ông Nguyễn Ngọc Đ và con gái là bà T chứng kiến. Sự việc vay mượn tiền giữa con gái bà là Nguyễn Thị T và bà D thì bà L không biết, bà không liên quan nên bà L không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà D về việc yêu cầu bà L trả nợ cho bà D.
* Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Võ Thị Thu N: Từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, Toà án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bà N đều vắng mặt không có lý do. Tại phiên toà hôm nay, bà N tiếp tục vắng mặt, không có bản tự khai, không trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết.
* Đối với người làm chứng ông Nguyễn Ngọc Đ trình bày: Ông đồng ý với phần trình bày của bà Nguyễn Thị L. Vợ chồng ông khi biết sự việc con gái là T nợ tiền bà D và thấy bà D liên tục thúc giục vợ chồng con gái trả tiền, nên ông bà đã rút tiền tiết kiệm gửi ở Ngân hàng cho con gái là bà T mượn 100.000.000 đồng để trả cho bà D. Sau khi bà L trực tiếp đến nhà bà D đưa tiền 100.000.000 đồng cho bà D thì bà D giữ bà L lại nhà bà D và bắt bà L ký vào giấy mượn tiền đề ngày 08/8/2022. Nên bà L phải ký vào giấy mượn tiền nêu trên. Bà L không có vay tiền của bà D.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DSST ngày 26 tháng 01 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai đã quyết định:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 91, 144, 147, 227, 228, khoản 1 Điều 244, 266 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng Điều Điều 463; 466; 468, 470 của Bộ luật dân sự; căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Trần Thị Bích D.
Buộc bị đơn là ông Huỳnh S và bà Nguyễn Thị T phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà D số tiền nợ gốc là 250.000.000 đồng và tiền nợ lãi là 70.550.000 đồng, tổng cộng là 320.550.000 đồng (Ba trăm hai mươi triệu, năm trăm năm mươi nghìn đồng).
Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên quyết định nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm; tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.
* Ngày 05 tháng 02 năm 2024, bị đơn là ông Huỳnh S và bà Nguyễn Thị T có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại.
* Diễn biến tại phiên toà phúc thẩm: Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai sau khi phân tích nội dung vụ án, kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa, kết luận: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá các tài liệu, chứng cứ phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm ông Huỳnh S và bà Nguyễn Thị T không xuất trình được tài liệu gì, chứng cứ gì mới để bảo vệ cho nội dung kháng cáo của mình nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Kháng cáo của bị đơn đảm bảo đúng thủ tục, nội dung và nộp trong thời hạn theo quy định của pháp luật nên được xem xét, xét xử theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Ngày 08/8/2022, bị đơn viết giấy mượn tiền thể hiện việc vay của nguyên đơn 350.000.000đ, có thỏa thuận lãi suất và thời hạn vay. Số tiền vay bị đơn không trực tiếp nhận từ nguyên đơn mà yêu cầu chuyển vào số tài khoản của bà Võ Thị Thu N tại Ngân hàng. Khi đến hạn trả nợ, do bị nguyên đơn hối thúc nên bị đơn nhờ mẹ là bà Nguyễn Thị L trả 100.000.000đ cho nguyên đơn. Sau đó bị đơn tiếp tục ký giấy cam kết trả nợ, thừa nhận còn nợ 250.000.000đ tiền gốc và tiền lãi. Để làm tin, bị đơn giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được chỉnh lý sang tên bà Võ Thị Thu N cho nguyên đơn giữ, đồng thời cam kết nếu bán được đất thì sẽ tính thêm tiền lãi cho nguyên đơn. Như vậy có căn cứ khẳng định, giao dịch giữa các đương sự như trên là hợp đồng vay tài sản theo quy định tại Điều 463 và khoản 2 Điều 470 Bộ luật dân sự.
[3]. Xét kháng cáo của bị đơn, thấy rằng:
[3.1]. Tại thời điểm ký vào "Giấy mượn tiền" ngày 08/8/2022 bị đơn có đầy đủ năng lực hành vi dân sự để nhận biết được tính chất và nội dung thể hiện tại “Giấy mượn tiền”, nhận thức được việc ký vào giấy mượn tiền với tư cách là "Người mượn tiền". Không có tài liệu, chứng cứ nào thể hiện việc bà N vay tiền của nguyên đơn. Bị đơn kháng cáo cho rằng không vay tiền của nguyên đơn, không trực tiếp nhận tiền mà chỉ là người chứng kiến, nhưng do không am hiểu pháp luật nên mới ký vào mục "Bên mượn tiền" của “Giấy mượn tiền” là không có cơ sở. Ngoài ra bị đơn còn cho rằng "Giấy cam kết trả nợ" ghi ngày 20/11/2022 là do bị nguyên đơn đe dọa, ép buộc nên mới ký, nhưng cũng không có căn cứ chứng minh.
[3.2]. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do các đương sự giao nộp, làm rõ tại phiên tòa theo quy định của pháp luật và kết quả tranh tụng để xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả nợ gốc 250.000.000đ, tiền lãi 70.550.000đ cho nguyên đơn là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4]. Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Huỳnh S và bà Nguyễn Thị T, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 26 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai.
- Về án phí phúc thẩm: ông Huỳnh S và bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0005950 ngày 21/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai; ông S, bà T đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của Bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: -VKSND tỉnh Gia Lai; - TAND huyện Chư Pưh; -Chi cục THADS huyện Chư Pưh; -Đương sự; - Lưu Tòa, lưu hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Chí Công |
Bản án số 67/2024/DS-PT ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 67/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: y án
