|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 67/2024/HNGĐ-ST Ngày: 17/4/2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Ngô Thị Gẩm.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Thu Trang.
2. Bà Trân Ngọc Diệu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Lan Chi – Thư ký Toà án nhân dân huyện
Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 96/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 02 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/3/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Văn Thị Hương G, sinh năm 2000.
Địa chỉ: Ấp P, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre.
Bị đơn: Anh Phùng Minh T, sinh năm 1993.
Địa chỉ: Ấp 4, xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre.
Chị G có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 19/02/2024, bản tự khai, biên bản hòa giải ngày 20/3/2024 nguyên đơn chị Văn Thị Hương G trình bày:
Chị và chồng là anh Phùng Minh T đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre vào ngày 25/5/2021. Chung sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau. Chị và anh T đã ly thân từ tháng 01/2024 đến nay. Hiện tại chị không muốn tiếp tục cuộc hôn nhân này do đã hết tình cảm với anh T. Do đó chị yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết cho chị được ly hôn. Về con chung: Giữa chị và anh T có 01 con chung là Phùng Ngọc Bảo A, sinh ngày 18/9/2021 hiện do anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Chị yêu cầu anh T tiếp tục nuôi con, chị không cấp dưỡng cho con. Về tài sản chung, nợ chung: không có.
Tại bản tự khai, biên bản hòa giải ngày 20/3/2024 bị đơn anh Phùng Minh T trình bày:
Anh và chị Văn Thị Hương G tự nguyện kết hôn và có đăng ký tại UBND xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre vào ngày 25/5/2021. Chung sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, chị G từ ngày đi làm thường xuyên về nhà trễ, thậm chí có lần đi qua đêm không về nhà, ít dành thời gian chăm sóc chồng, con. Tuy chị G xin ly hôn nhưng anh không đồng ý vì còn tình cảm với chị G, mong muốn gia đình hàn gắn hạnh phúc. Anh và chị G đã ly thân khoảng 2 tháng nay. Giữa anh và chị G có 01 con chung là Phùng Ngọc Bảo A, sinh ngày 18/9/2021 hiện do anh trực tiếp nuôi dưỡng. Anh yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu chị G cấp dưỡng. Tài sản chung, nợ chung không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Văn Thị Hương G có yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt, bị đơn anh Phùng Minh T đã được tống đạt nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị G và anh T.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị G và anh T tự nguyện kết hôn và có đăng ký tại UBND xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre vào ngày 25/5/2021. Chị G và anh T đều cho rằng cuộc sống hôn nhân chỉ hạnh phúc thời gian đầu. Sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau. Từ đó, chị G không còn tình cảm với anh T và xin ly hôn. Đối với anh T, chính anh T cũng cho rằng giữa vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn. Từ lúc chị G đi làm thường xuyên về nhà trễ, thậm chí có lần đi qua đêm không về nhà, ít dành thời gian chăm sóc gia đình. Nhưng do còn tình cảm với chị G nên anh không đồng ý ly hôn. Tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình có quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc gia đình...”. Đối chiếu với quy định trên thì giữa chị G và anh T là vợ chồng nhưng lại xảy ra mâu thuẫn, không quan tâm chăm sóc nhau. Hơn nữa, chị G còn khẳng định đã không còn tình cảm với anh T và không muốn kéo dài cuộc hôn nhân này. Trong khoảng thời gian xảy ra mâu thuẫn và ly thân cho đến nay, giữa chị G và anh T cũng không hàn gắn được hạnh phúc gia đình. Bên cạnh đó, trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án cũng đã tổ chức phiên hoà giải động viên anh chị đoàn tụ, hàn gắn tình cảm gia đình nhưng chị G vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa chị G và anh T đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị G.
[3] Về con chung: Giữa chị G và anh T có 01 con là Phùng Ngọc Bảo A, sinh ngày 18/9/2021. Chị G yêu cầu anh T tiếp tục nuôi con, chị không cấp dưỡng, anh T cũng đồng ý. Xét thấy, hiện tại cháu Bảo A đang do anh T trực tiếp nuôi dưỡng, vì vậy, để đảm bảo không làm xáo trộn cuộc sống của cháu Bảo A nên cần giao cháu Bảo A cho anh T được tiếp tục nuôi dưỡng. Tại khoản 2 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Xét thấy, anh T không yêu cầu chị G cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện của anh T nên ghi nhận.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị G và anh T trình bày không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị G phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dung án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Văn Thị Hương G. Chị Văn Thị Hương G được ly hôn với anh Phùng Minh T.
Về con chung: Giao cháu Phùng Ngọc Bảo A, sinh ngày 18/9/2021 cho anh T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Ghi nhận anh T không yêu cầu chị G cấp dưỡng nuôi con. Chị G có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án quyết định thay đổi việc cấp dưỡng cho con. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc của cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị G và anh T trình bày không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị G phải chịu là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0002907 ngày 27/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm. Chị G đã nộp đủ án phí.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Gẩm |
Bản án số 67/2024/HNGĐ-ST ngày 17/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 67/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON
