Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ LA GI

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 20 - 12 - 2023

V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Phú Phước

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Nguyễn Thanh Hoàng
  • Bà Phan Thị Bích

Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Thanh - Thư ký Toà án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh Đan - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 312/2023/TLST-HNGĐ, ngày 09/10/2023, về: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 30/11/2023/QĐST-HNGĐ và Quyết định hoãn phiên toà số 49/2023/QĐST-HNGĐ, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trương Thị Kim A, sinh năm 1978(có mặt)

Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc V, sinh năm 1976(vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn Phước Linh, xã Tân Phước, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà hôm nay nguyên đơn bà Trương Thị Kim A trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Ngọc V đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân Thiện, huyện Hàm Tân nay là thị xã La Gi năm 1998. Quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai bên cải vã nhau rồi ông Việt đập phá đồ đạc, hành hung đánh bà A, xúc phạm danh dự bà A, ngoài ra ông V gian díu với người phụ nữ khác, hiện nay ông bà đã ly thân mạnh ai nấy sống, không quan tâm lẫn nhau. Nay bà không còn tình cảm với ông V nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông V.

Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung, trong đó có 01 người con đã trưởng thành và 01 con là Nguyễn Ngọc Thiên A, sinh ngày 05/7/2015. Bà A có nguyện vọng trực tiếp nuôi con chưa thành niên, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa giải quyết.

Tại phiên toà hôm nay bị đơn ông Nguyễn Ngọc V vắng mặt nhưng trong quá trình giả quyết vụ án có ý kiến:

Về quan hệ hôn nhân: Thống nhất với lời trình bày của bà O về thời điểm kết hôn, con chung. Thời gian gần đây bà A có người đàn ông khác nên trở nên lạnh nhạt với ông, 03 năm nay tuy sống chung nhưng đã không còn quan tâm đến nhau, mạnh ai nấy sống và hơn 03 tháng nay bà Anh đã đi khỏi nhà. Nay bà Ayêu cầu ly hôn thì ông không đồng ý ly hôn vì con cái luôn cần có cha mẹ và mẫu thuẫn vợ chồng không đáng kể

Về con chung: Nếu ly hôn ông đồng ý giao con chung chưa thành niên cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung Ông không yêu cầu Tòa giải quyết tài sản chung, nợ chung.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm: Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự; Thẩm quyền thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật, tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng là phù hợp quy định pháp luật; việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử thực hiện đúng phiên tòa sơ thẩm; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đương sự đã thực hiện theo quy định.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: Bà Trương Thị Kim A được ly hôn ông Nguyễn Ngọc V. Về con chung: Bà A trực tiếp nuôi con Nguyễn Ngọc Thiên A, sinh ngày 05/7/2015, ông V không phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không giải quyết. Về án phí: Bà A phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Sau khi nghe quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bà Trương Thị Kim A khởi kiện ông Nguyễn Ngọc V về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”. Bị đơn ông Việt có nơi cư trú tại xã Tân Phước, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.

[2] Về nội dung vụ án: Bà A yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông V và có nguyện vọng trực tiếp nuôi con Nguyễn Ngọc Thiên An, sinh ngày 05/7/2015, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Xét, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy, giữa bà A và ông V tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn vào năm 1998 tại UBND xã tân Thiện, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận, nên quan hệ hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Quá trình chung sống giai đoạn đầu vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng về sau thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường hay cãi vả lẫn nhau, hiện nay mạnh ai nấy sống không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau nên việc vợ chồng hàn gắn là rất khó. Ngoài ra, giữa ông, bà không có giải pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Từ những căn cứ trên, nhận thấy mâu thuẫn giữa ông V và bà a đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không còn tồn tại, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà A ly hôn ông V là phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Ngọc Thiên A, sinh ngày 05/7/2015 cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng, ông V không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà A và ông V không có yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Bà A phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điều 228; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án .

Tuyên xử:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Trương Thị Kim A được ly hôn ông Nguyễn Ngọc V.

[2] Về con chung: Giao con chung Nguyễn Ngọc Thiên A, sinh ngày 05/7/2015 cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng, ông V không phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[3] Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí: Bà Trương Thị Kim A phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0016698 ngày 05/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi. Bà A đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND thị xã La Gi;
  • - THADS thị xã La Gi;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS - Lưu Tòa án;
  • - UBND nơi Đăng ký kết hôn

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đỗ Phú Phước

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2023/HNGĐ-ST ngày 20/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 67/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger