Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2024/HS-PT

Ngày 17-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh và ông Nguyễn Xuân Trọng.

Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Thao - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa:

Bà Bùi Thị Kim Tuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 74/2024/TLPT-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Bùi Trần H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 46/2024/HS-ST ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Bị cáo có kháng cáo:

Bùi Trần H, sinh ngày 22 tháng 9 năm 2001 tại Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố C, thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn L và bà Trần Thị Ngọc P; vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”. Vụ án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 24/5/2023, hiện đang bị tạm giam trại tạm giam công an tỉnh V (có mặt).

Bị hại: Anh Mai Khắc Q, sinh năm 1993; trú tại: Số nhà G, ngõ A, đường T, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Ngọc P, sinh năm 1977; địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).

Ngoài ra trong vụ án còn có những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ tháng 02 năm 2022 đến tháng 4 năm 2022, Bùi Trần H đã thực hiện hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại thành phố V. Cụ thể:

* Vụ thứ nhất:

Khoảng tháng 02 năm 2022, Bùi Trần H thuê của anh Mai Khắc Q 01 xe ô tô nhãn hiệu Kia Cerato BKS 88A-391.41 mục đích để làm phương tiện đi lại. Hai bên có làm hợp đồng thuê xe theo mẫu được soạn sẵn, H ký nhận dưới mục “Bên thuê xe” có trong hợp đồng, thỏa thuận thời hạn thuê là 01 tháng, 05 ngày trả tiền 1 lần, giá thuê xe là 1.200.000 đồng/ngày, nếu hết thời hạn thuê thì tiếp tục gia hạn thuê xe theo tháng, nếu không trả được tiền thuê xe thì H phải trả lại xe cho anh Q. Anh Q bàn giao xe cho H kèm theo giấy tờ xe bao gồm: 01 bản phô tô Giấy chứng nhận đăng ký xe, 01 Giấy bảo hiểm trách nhiệm dân sự, 01 Giấy đăng kiểm xe. H thanh toán tiền thuê xe cho anh Q bằng hình thức chuyển khoản từ số tài khoản 10869455388 của H mở tại Ngân hàng TMCP C (V) đến số tài khoản của Q hoặc trả tiền mặt. Đến ngày 04/3/2022, H cần tiền tiêu xài cá nhân nên nhờ Hoàng Phú Q1 là bạn thân của Bùi Trần H tìm nơi cầm cố chiếc xe trên để vay tiền, H nói với Q1 nguồn gốc xe ô tô nhãn hiệu Kia Cerato BKS 88A-391.41 là của H. Q1 đồng ý và gọi điện thoại cho anh Nguyễn Kim T, hỏi anh T cho H cầm cố chiếc xe để vay tiền, anh T đồng ý. Sau đó, Q1 và Nguyễn Việt A (là bạn của H, Q1) đi cùng H trực tiếp đến gặp anh T để cầm cố xe BKS 88A-391.41 cho anh T để vay 220.000.000 đồng, có viết giấy vay tiền. H giao xe cho anh T ở quán nước trên đường A thuộc địa phận thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc kèm theo bảo hiểm xe (bản gốc) và giấy tờ xe (bản phô tô công chứng). Anh T chuyển khoản cho H số tiền 186.000.000 đồng vào tài khoản 108869455388 mang tên Bùi Trần H mở tại Ngân hàng TMCP C (V) và chuyển tiền mặt cho H số tiền 12.000.000 đồng, tổng số tiền H nhận được là 198.000.000 đồng, cắt lãi lại số tiền 22.000.000 đồng. Toàn bộ số tiền trên H tiêu xài cá nhân hết. Khoảng 10 ngày sau H cùng Việt A và Q1 đi trả nợ cho anh T số tiền 220.000.000 đồng trên. H đưa cho Q1 tiền để Q1 vào trả cho anh T, sau đó lấy được xe ô tô BKS 88A-391.41 về, Q1 giao lại xe cho H tại khu vực cầu C, xã Q, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. Khoảng 15 ngày sau, H tiếp tục nhờ Q1 cầm cố chiếc xe trên cho anh T để vay số tiền 220.000.000 đồng, lãi suất như thỏa thuận trước đó. Lần này chỉ có H và Q1 đi gặp anh T. T đưa cho H 198.000.000 đồng tiền mặt, bị cắt lãi 22.000.000 đồng. Toàn bộ số tiền vay được của T, H đã một mình tiêu xài cá nhân hết.

* Vụ thứ hai:

Sau khi đã cầm cố xe ô tô BKS: 88A-391.41 và tiêu xài hết tiền, do cần thêm tiền tiêu xài cá nhân, H đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Mai Khắc Q bằng hình thức tiếp tục thuê xe ô tô tự lái mang đi cầm cố. Ngày 10/4/2022, H liên lạc đặt vấn đề với anh Q cho H thuê thêm xe ô tô làm

phương tiện đi lại. Anh Q đồng ý lập hợp đồng cho H thuê 01 xe ô tô nhãn hiệu Mazda 6, màu trắng, BKS: 30F-713.25, thời hạn thuê xe 01 tháng, giá thuê 1.000.000 đồng/ngày, thanh toán 05 ngày 1 lần. Ngay sau khi thuê được xe ô tô trên, H nhờ anh Q1 tìm chỗ cầm cố xe. Lúc này, Q1 đang ở thành phố Hồ Chí Minh nên Q1 có gọi điện cho anh Lê Văn Y để giới thiệu cho H cầm cố chiếc xe ô tô trên vay số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng). Anh Y đồng ý, sau đó H một mình trực tiếp đi xe ô tô BKS: 30F-713.25 đến cầm cố cho anh Y lấy 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng). H khai nhận anh Y thỏa thuận với H lãi suất là 10.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, anh Y cắt lãi trước 15.000.000 đồng, H nhận được 135.000.000 đồng tiền mặt. Chỉ có H đến gặp anh Y, Q1 không đi cùng H. Toàn bộ số tiền này H đã một mình tiêu xài cá nhân hết. Sau đó không có khả năng trả nợ nên H đã trốn đi khỏi nơi cư trú.

Sau khi thuê xe, H mới chỉ trả tiền thuê xe cho anh Q được 02 lần, sau đó không trả tiền thuê xe nên anh Q đã nhiều lần yêu cầu H phải trả xe, tiền thuê xe và chấm dứt hợp đồng thuê xe nhưng H không có tiền trả tiền đã vay của anh T và anh Y để rút xe về trả cho anh Q nên H đã cắt đứt liên lạc với anh Q.

Khoảng 01 tháng sau khi vay tiền, H không trả được tiền vay nên đã nhờ Q1 xử lý 02 khoản nợ trên giúp H, H nói với Q1 xin anh Y và anh T cho khất nợ, nếu anh T và anh Y không đồng ý thì H đồng ý cho Q1 đem 02 chiếc xe trên đi cầm cố vay tiền trả cho anh Y và anh T, khi nào có tiền H sẽ trả nợ để lấy xe về. Do tin tưởng 02 xe trên là của H, Q1 đồng ý. Anh T và anh Y có đưa lại xe cho Q1. Ngày 01/7/2022, Q1 một mình đem chiếc xe ô tô nhãn hiệu Kia Cerato BKS 88A-391.41 lên Yên Bái cầm cố cho anh Nguyễn Hoàng L1, sinh năm 1983, trú tại: Tổ H, phường M, thành phố Y, tỉnh Yên Bái làm nghề buôn bán xe ô tô để vay số tiền 220.000.000 đồng (hai trăm hai mươi triệu), lãi suất theo lãi suất ngân hàng, anh L1 yêu cầu Q1 phải ký xác nhận vào giấy bán xe do anh L1 soạn sẵn để đảm bảo việc Q1 sẽ quay lại lấy xe, hai bên thỏa thuận, nếu Q1 không quay lại lấy xe thì anh L1 có quyền bán để thu hồi tài sản. Sau đó, anh L1 chuyển vào số tài khoản 1018140744 mở tại Ngân hàng V1 số tiền 180.000.000 đồng và đưa cho Q1 số tiền 40.000.000 đồng bằng tiền mặt.

Ngày 02/7/2022, Q1 tiếp tục gọi điện cho anh Nguyễn Hoàng L1 nói do cần tiền gấp nên muốn vay thêm 150.000.000 đồng, thế chấp bằng chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda 6 BKS: 30F – 713.25 để vay số tiền trên, do tin tưởng Q1 cũng làm nghề mua bán xe ô tô nên anh L1 đồng ý. Buổi chiều cùng ngày, Q1 một mình điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Mazda 6 BKS: 30F – 713.25 đến gặp anh L1. Q1 nói với anh L1 đây là xe của Q1 mới mua lại, đang làm thủ tục sang tên. Anh L1 tin tưởng cho Q1 vay tiền và yêu cầu ký tên vào mẫu giấy bán xe do anh L1 soạn sẵn, chưa điền nội dung, rồi anh L1 đưa cho Q1 số tiền 150.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản số tiền 131.000.000 đồng và 19.000.000 đồng tiền mặt. Toàn bộ số tiền Q1 cầm cố hai chiếc xe ô tô trên cho anh L1 đều được Q1 đem về trả cho anh T và anh Y, anh L1 không cắt lãi trước với Q1, hẹn khi nào có tiền sẽ thanh toán đầy đủ cả tiền gốc và tiền lãi để lấy xe về.

Đến khoảng giữa tháng 8/2022, anh L1 nhiều lần liên lạc với Q1 yêu cầu

trả tiền và lấy xe về nhưng không liên lạc được. Anh L1 đã bán chiếc xe ô tô Kia Cerato, BKS 88A-391.41 cho anh Hoàng Văn H1, sinh năm 1987, HKTT: xã C, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, tạm trú tại xã A, huyện H, thành phố Hà Nội. Ngày 17/8/2023, anh H1 đã bán lại xe ô tô trên cho anh Huỳnh Trọng H2, sinh năm 1995, HKTT: Thôn N, xã P, huyện C, thành phố Hà Nội với giá 176.000.000 đồng (Một trăm bảy mươi sáu triệu đồng). Ngày 07/9/2023, anh Phạm Văn T1, sinh năm 1982, trú tại: TDP V, phường T, thành phố V là chủ sở hữu chiếc xe ô tô trên đã chuộc lại xe ô tô từ anh H2 với giá tiền là 180.000.000 đồng (Một trăm tám mươi triệu đồng). Tuy nhiên, sau đó anh H2 đã hỗ trợ trả lại cho anh T1 số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).

Đối với xe ô tô BKS: 30F-713.25 anh Nguyễn Hoàng L1 đã gửi trong Gara ô tô của anh Bùi Văn Đ, sinh năm 1992, HKTT: Tổ H, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Ngày 30/8/2022, anh Bùi Văn Đ tự nguyện giao nộp cho Cơ quan CSĐT Công an thành phố V chiếc xe trên để phục vụ điều tra.

Sau khi xảy ra sự việc, Bùi Trần H đã bỏ trốn khỏi địa phương, ngày 24/5/2023, Cơ quan CSĐT – Công an thành phố V thực hiện Lệnh bắt để tạm giam đối với H, thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu trắng bạc.

* Kết quả trưng cầu giám định:

Tại bản Kết luận giám định số 651 ngày 16/3/2023 của Phòng K - Công an tỉnh V kết luận: Chữ ký, chữ viết dòng họ tên “Bùi Trần H” dưới mục “ĐẠI DIỆN BÊN B” và mục “KÝ NHẬN CỦA KHÁCH HÀNG” trên các mẫu cần giám định A1, A2 so với chữ ký, chữ viết của Bùi Trần H trên các mẫu so sánh ký hiệu M3, M4 là do cùng một người ký, viết ra.

Tại bản Kết luận giám định số 3360 ngày 11/11/2022 của Phòng K - Công an tỉnh V kết luận: Chữ viết, chữ ký “Q1, Hoàng Phú Q1” dưới mục “BÊN BÁN (ký, ghi rõ họ tên)” trên các mẫu cần giám định A1 so với chữ ký, chữ viết của Hoàng Phú Q1 trên các mẫu so sánh ký hiệu M1 là do cùng một người ký, viết ra.

* Kết quả định giá tài sản:

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 124 ngày 13/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản UBND thành phố V kết luận: Chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda 6, màu trắng, BKS: 30F – 713.25 có giá trị 450.000.000 đồng (bốn trăm năm mươi triệu đồng).

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 28 ngày 08/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản - UBND thành phố V kết luận: Xe ô tô Kia Cerato, màu trắng, BKS: 88A – 391.41 có giá trị 480.000.000 đồng (bốn trăm tám mươi triệu đồng).

Sau khi nhận được các Kết luận định giá tài sản nêu trên bị cáo Bùi Trần H, bị hại Mai Khắc Q đều đồng ý với kết luận định giá tài sản.

Với hành vi phạm tội nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 46/2024/HS-ST ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Bùi Trần H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; khoản 3 Điều 175; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Xử phạt bị cáo Bùi Trần H 08 (T2) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 06 (S) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo pháp chấp hành chung cho cả hai tội là 14 (Mười bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 24/5/2023).

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định hình phạt bổ sung, bồi thường dân sự, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo của bị cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024, bị cáo Bùi Trần H có đơn kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2024/HS-ST ngày 19 tháng 4 năm 2024 của TAND thành phố Vĩnh Yên với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Bùi Trần H giữ nguyên nội dung kháng cáo như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu và có quan điểm:

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Trần H, sửa bản án sơ thẩm số 46/2024/HS-ST ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc về hình phạt đối với bị cáo Bùi Trần H; xử phạt bị cáo H 06 (Sáu) năm 06 (S) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 04 (Bốn) năm 06 (S) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo pháp chấp hành chung cho cả hai tội là 11 (mười một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 24/5/2023).

Đối với số tiền thuê xe của anh Mai Khắc Q, bị cáo Bùi Trần H có trách nhiệm phải trả, cấp sơ thẩm tuyên “Ông Bùi Văn L (bố của bị cáo Bùi Trần H) phải trả cho anh Mai Khắc Q tiền thuê 02 xe ô tô là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) thay cho bị cáo Bùi Trần H” là không đúng, cần rút kinh nghiệm.

Tại cấp sơ thẩm, ông Bùi Văn L đã trả cho anh Q 50.000.000 đồng; tại cấp phúc thẩm, bà Trần Thị Ngọc P đã trả thêm cho anh Q số tiền 100.000.000 đồng; bà P, ông L (là bố mẹ của bị cáo) tự nguyện trả tiền thay cho bị cáo H và không có yêu cầu gì đối với bị cáo. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Mai Khắc Q không yêu cầu bị cáo Bùi Trần H phải trả số tiền 50.000.000 đồng còn lại (Năm mươi triệu đồng). Đề nghị hội đồng xét xử xác nhận bị cáo đã bồi thường xong.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Bùi Trần H làm trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, bị cáo Bùi Trần H đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ căn cứ để kết luận:

Trong khoảng thời gian từ tháng 02/2022 đến tháng 4/2022, Bùi Trần H đã thực hiện hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại thành phố V. Cụ thể:

- Khoảng tháng 02 năm 2022, Bùi Trần H thuê của anh Mai Khắc Q 01 xe ô tô nhãn hiệu Kia Cerato BKS 88A-391.41 mục đích để làm phương tiện đi lại. H đã thanh toán tiền thuê xe cho anh Q. Đến cuối tháng 3/2022, H cần tiền tiêu xài cá nhân nên nhờ anh Hoàng Phú Q1 tìm nơi cầm cố chiếc xe trên để vay tiền, H nói với Q1 nguồn gốc xe ô tô nhãn hiệu Kia Cerato BKS 88A-391.41 là của H. Sau đó, Q1 giới thiệu H cho anh Nguyễn Kim T, anh T đồng ý cho H cầm cố chiếc xe trên để vay số tiền 220.000.000 đồng. Toàn bộ số tiền vay được của anh T, H đã một mình tiêu xài cá nhân hết. Chiếc xe ô tô BKS 88A-191.41 mà bị cáo H “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” của anh Mai Khắc Q theo Kết luận định giá tài sản có trị giá 480.000.000 đồng.

- Sau khi đã cầm cố xe ô tô BKS: 88A-391.41 và tiêu xài hết tiền, do cần thêm tiền tiêu xài cá nhân, H đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Mai Khắc Q bằng hình thức tiếp tục thuê xe ô tô tự lái mang đi cầm cố. Ngày 10/4/2022, H liên lạc đặt vấn đề với anh Q cho H thuê thêm xe ô tô làm phương tiện đi lại. Anh Q đồng ý lập hợp đồng cho H thuê thêm 01 xe ô tô nhãn hiệu Mazda 6, màu trắng, BKS: 30F-713.25. Ngay sau khi thuê được xe ô tô, H một mình trực tiếp đi xe ô tô trên đến cầm cố cho anh Y lấy 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng). Toàn bộ số tiền này H đã một mình tiêu xài cá nhân hết. Sau đó không có khả năng trả nợ nên H đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú. Theo Kết luận định giá tài sản chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda 6, màu trắng, BKS: 30F – 713.25 mà bị cáo H “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của anh Mai Khắc Q có giá trị 450.000.000 đồng (bốn trăm năm mươi triệu đồng).

Với hành vi phạm tội nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Bùi Trần H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Xét kháng cáo của bị cáo Bùi Trần H:

Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác

được pháp luật bảo vệ. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng pháp luật xử phạt bị cáo 08 (T2) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 06 (S) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ.

Tuy nhiên, sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tại cấp sơ thẩm xét xử bị cáo đã đã tích cực tác động để bố của bị cáo bồi thường cho bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; đồng thời bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Trước khi chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo đã tác động để gia đình trả cho bị hại thêm 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), anh Q đã nhận đủ số tiền 100.000.000 đồng và đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đối với số tiền 50.000.000 đồng còn lại, anh Q xác nhận không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nữa. Ngoài ra, tại cấp phúc thẩm, gia đình bị cáo nộp thêm tài liệu chứng cứ mới là ông ngoại của bị cáo được tặng thưởng Huy chương kháng chiến, Huân chương chiến sĩ giải phóng và mẹ bị cáo là bà Trần Thị Ngọc P được tặng thưởng Huy hiệu Vì sự nghiệp xây dựng và phát triển tỉnh Vĩnh Phúc. Do vậy, bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy, khi phạm tội bị cáo đang là sinh viên trường đại học K1 và công nghệ nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo lại được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đủ điều kiện để áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, trong khung hình phạt liền kề cũng đủ sức răn đe, giáo dục và tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về gia đình và xã hội. Kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Đối với số tiền thuê xe của anh Mai Khắc Q, bị cáo Bùi Trần H có trách nhiệm phải trả, cấp sơ thẩm tuyên “Ông Bùi Văn L (bố của bị cáo Bùi Trần H) phải trả cho anh Mai Khắc Q tiền thuê 02 xe ô tô là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) thay cho bị cáo Bùi Trần H” là không đúng, cần rút kinh nghiệm.

Tại cấp sơ thẩm, ông Bùi Văn L đã trả cho anh Q 50.000.000 đồng; tại cấp phúc thẩm, bà Trần Thị Ngọc P đã trả thêm cho anh Q số tiền 100.000.000 đồng; bà P, ông L (là bố mẹ của bị cáo) tự nguyện trả tiền thay cho bị cáo H và không có yêu cầu gì đối với bị cáo.

Số tiền 50.000.000 đồng còn lại, anh Mai Khắc Q tự nguyện cho bị cáo, không yêu cầu bị cáo trả số tiền này nữa, bị cáo cũng nhất trí. Xét thấy, yêu cầu này của bị hại là tự nguyện và hợp pháp cần ghi nhận.

[6] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Trần H. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 46/2024/HS-ST ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc về hình phạt.

Tuyên bố bị cáo Bùi Trần H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; khoản 3 Điều 175; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54, 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Xử phạt bị cáo Bùi Trần H 06 (Sáu) năm 06 (S) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 04 (Bốn) năm 06 (S) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo pháp chấp hành chung cho cả hai tội là 11 (mười một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 24/5/2023).

Áp dụng Điều 481 Bộ luật Dân sự:

Xác nhận bị cáo Bùi Trần H đã trả cho anh Mai Khắc Q số tiền 100.000.000 đồng (do bà Trần Thị Ngọc P nộp thay) .

Ghi nhận sự tự nguyện của anh Mai Khắc Q không yêu cầu bị cáo Bùi Trần H phải trả số tiền 50.000.000 đồng còn lại (Năm mươi triệu đồng). (Xác nhận bị cáo Bùi Trần H đã trả đủ tiền cho anh Mai Khắc Q).

Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Bùi Trần H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND thành phố Vĩnh Yên;
  • - Phòng HS - Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Công an thành phố Vĩnh Yên;
  • - TAND thành phố Vĩnh Yên;
  • - THADS thành phố Vĩnh Yên;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS; Tòa hình sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2024/HS-PT ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về lừa đảo chiếm đoạt tài sản và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 67/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Hình sự phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt ts
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger