TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TL TỈNH HÀ NAM ————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 67/2024/HS-ST Ngày: 20 - 8 - 2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TL, TỈNH HÀ NAM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Lại Xuân Cảnh;
- - Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Mạnh Điệp và bà Phạm Thị Mơ.
- - Thư ký phiên tòa: bà Nhiếp Thị Liên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TL, tỉnh Hà Nam.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TL, tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: ông Vũ Đình Tưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TL, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 69/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 69/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Đức T - sinh năm 1994; nơi thường trú: tiểu khu Ch Gi, thị trấn KK, huyện TL, tỉnh Hà Nam; nơi ở hiện tại: thôn MC, xã TH, huyện TL, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Thị TH; có vợ là Bùi Thị TH và có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 17/6/2024 đến ngày 26/6/2024 chuyển tạm giam, hiện nay đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam, có mặt tại phiên tòa.
- Người chứng kiến: ông Dương Quốc Tr, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 17/6/2024, lực lượng Công an thị trấn KK, huyện TL, tỉnh Hà Nam làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát tại khu vực tiểu khu Ninh Phú, thị trấn KK, huyện TL thì thấy Nguyễn Đức T đang đi bộ trên đường, có biểu hiện nghi vấn, nên yêu cầu kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện T đang cầm ở tay phải 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong có 05 viên nén hình tròn màu đỏ, T khai nhận là ma tuý dạng ngựa vừa mua, mục đích để sử dụng. Trên cơ sở lời khai ban đầu của T, lực lượng Công an đã đưa T cùng vật chứng về trụ sở UBND thị trấn KK lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng là 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong có 05 viên nén hình tròn màu đỏ, niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01.
Đến 17 giờ ngày 17/6/2024, Công an thị trấn KK đã bàn giao đối tượng, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu có liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) - Công an huyện TL để giải quyết theo thẩm quyền. Cũng trong ngày 17/6/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện TL đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Đức T tại thôn MC, xã TH, huyện TL, tỉnh Hà Nam nhưng không thu giữ gì.
Ngày 18/6/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện TL ra Quyết định trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam giám định đối với mẫu vật chứng thu giữ niêm phong ký hiệu QT01. Tại bản Kết luận giám định số 455/KL-KTHS ngày 24/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam kết luận: “Mẫu viên nén trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,509g (không phẩy năm trăm linh chín gam) loại: Methamphetamine”.
Quá trình điều tra xác định: khoảng 11 giờ 30 phút ngày 17/6/2024, do có nhu cầu sử dụng ma tuý, nên Nguyễn Đức T đi bộ từ chỗ ở tại thôn MC, xã TH ra Quốc lộ 1A, rồi đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông không quen biết, đến địa bàn thị trấn KK, huyện TL để tìm mua ma tuý. Khi đến gần khu vực cổng trường Trung học cơ sở thị trấn KK thì T xuống xe đi bộ và gặp 01 người đàn ông đang ngồi trên xe mô tô dựng ở lề đường. Nhìn dáng vẻ của người này giống người nghiện ma túy, nên T đến gần và hỏi: “Anh có chỗ nào lấy ngô không lấy cho em năm trăm?” - ý T nhờ mua hộ ma túy ngựa, thì người này nói: “Đưa tiền đây”. T lấy 500.000 đồng đưa cho người đàn ông này; người đó cầm tiền, bảo T đứng đợi, rồi điều khiển xe mô tô đi khoảng 15 phút sau quay lại đưa cho T 01 gói giấy bạc màu vàng. Kiểm tra thấy bên trong có 05 viên ma tuý ngựa, nên T gói lại và cầm ở tay phải, rồi đi bộ quay về, thì bị lực lượng Công an thị trấn KK phát hiện, bắt quả tang.
Tại bản Cáo trạng số 70/CT-VKS-MT ngày 18/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện TL đã truy tố Nguyễn Đức T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TL giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự - xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T từ 21 đến 24 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, tạm giữ (17/6/2024); hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự - tịch thu, tiêu hủy số ma túy Methamphetamine cùng bao gói mẫu vật hoàn trả sau giám định.
- Bị cáo Nguyễn Đức T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, Nguyễn Đức T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như trong nội dung bản Cáo trạng. Lời khai nhận của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, bản kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: khoảng 12 giờ 15 phút ngày 17/6/2024, tại khu vực đường thuộc tiểu khu Ninh Phú, thị trấn KK, huyện TL, tỉnh Hà Nam, lực lượng Công an thị trấn KK, huyện TL làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát đã phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Đức T đang tàng trữ trái phép 0,509 gam ma túy loại Methamphetamine, với mục đích để sử dụng.
Hành vi tàng trữ trái phép Methamphetamine của Nguyễn Đức T là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về độc quyền quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, tàng trữ Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam. Hội đồng xét xử kết luận: hành vi của Nguyễn Đức T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện TL truy tố đối với Nguyễn Đức T là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt.
- - Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, được chính quyền địa phương xác nhận; nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về hình phạt:
- - Hình phạt chính: qua xem xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
- - Về hình phạt bổ sung: xét thấy, bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng: đối với số Methamphetamine hoàn trả sau giám định, là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; nên cần tịch thu, tiêu hủy.
[6] Về các vấn đề khác:
- Về nguồn gốc số ma túy và người bán ma túy cho Nguyễn Đức T: quá trình điều tra, T khai số Methamphetamine T tàng trữ trái phép là do T mua của một người nam giới tại khu vực cổng trường Trung học cơ sở thị trấn KK; T không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này. Ngoài lời khai của T, thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác, nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện TL không có căn cứ làm rõ nguồn gốc số ma túy cũng như người đã bán ma túy cho T.
[7] Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 và điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
1. Về hình sự: tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 21 (hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (17/6/2024).
- - Hình phạt bổ sung: miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Nguyễn Đức T.
2. Xử lý vật chứng: tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số Methamphetamine hoàn trả sau giám định trong phong bì niêm phong số 455/KTHS, mặt trước phong bì ghi chữ “Mẫu vật hoàn trả QT01” (chi tiết vật chứng như trong Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 19/7/2024 giữa Cơ quan CSĐT - Công an huyện TL với Chi cục Thi hành án dân sự huyện TL).
3. Án phí: bị cáo Nguyễn Đức T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo đối với bản án: bị cáo có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
5. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lại Xuân Cảnh |
Bản án số 67/2024/HS-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TL, TỈNH HÀ NAM về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 67/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TL, TỈNH HÀ NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức Toàn - Tàng trữ trái phép chất ma túy
