Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TÂN CHÂU

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 67/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 19/8/2024

“V/v tranh chấp hôn nhân và

gia đình, ly hôn, nuôi con chung"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Dũng và bà Nguyễn Thị Kiều Trang.
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Tấn Bửu, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hoài - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 120/2024/TLST-HNGĐ ngày 01/4/2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 109/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Đinh Thị A T, sinh năm 1987; cư trú: Số G, khu dân cư X, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).
  • - Bị đơn: Ông Lê Hoài T1, sinh năm 1987; nơi thường trú: tổ C, ấp A, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang; nơi tạm trú: P A Nhà trọ N tổ E, khu phố G, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Đinh Thị A T trình bày: Năm 2016, chị T và anh T1 do tự tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại UBND phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 129 ngày 09/09/2016. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, kinh tế đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống về tình cảm, không có tiếng nói chung và vợ chồng đã sống xa nhau từ tháng 10 năm 2023 cho đến nay. Nhận thấy, hạnh phúc vợ chồng không còn nên chị T yêu cầu được ly hôn với anh T1.

Trong thời kỳ hôn nhân, chị T và anh T1 có 01 (một) người con chung tên Lê Hoài Hương T2, sinh ngày 31/3/2018. Hiện cháu T2 đang sinh sống với chị T. Chị T yêu cầu được nuôi dưỡng cháu T2 và không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án số 221/TB-TLVA ngày 01/4/2024 và các văn bản tố tụng khác cho anh Lê Hoài T1 theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhưng đến nay, anh T1 không tham gia tố tụng và cung cấp văn bản ý kiến của mình cho Tòa án.

Quá trình tố tụng, Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ: Xác minh mối quan hệ hôn nhân và gia đình (lấy lời khai ông Lê Văn P); xác minh nơi cư trú của anh Lê Hoài T1 tại Công an xã V, thị xã T và Công an phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương, cụ thể:

  • - Ông Lê Văn P (cha ruột ông Lê Hoài T1) cho biết: Anh T1 và chị T là vợ chồng, sau khi kết hôn anh T1 và chị T làm ăn, sinh sống tại thành phố L, tỉnh An Giang. Do đó, mâu thuẫn giữa vợ chồng anh T1 và chị T như thế nào ông P không biết. Anh T1 và chị T đã không còn sống chung với nhau. Hiện nay, anh T1 đang đi làm tại Bình Dương. Anh T1 và chị T có một con chung tên Lê Hoài Hương T2, hiện cháu T2 đang sống cùng chị T tại thành phố L, tỉnh An Giang.
  • - Công an xã V, thị xã T, tỉnh An Giang và Công an phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương cung cấp thông tin như sau: Anh Lê Hoài T1, sinh năm 1987; nơi thường trú: Tổ C, ấp A, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang, có đăng ký tạm trú và thường xuyên sinh sống tại Nhà trọ N, tổ E, khu phố G, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Tại phiên tòa, chị T kiên quyết yêu cầu ly hôn với anh T1 và yêu cầu được nuôi dạy con chung tên Hương T2, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung.

- Phát biểu của Kiểm sát viên:

  • + Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ việc đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về quyền và nghĩa vụ của đương sự. Bị đơn vắng mặt tại các buổi họp và làm việc của Tòa án.
  • + Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
  • - Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đinh Thị A T với anh Lê Hoài T1.
  • - Về con chung: Chị T được nuôi dưỡng con chung tên Lê Hoài Hương T2, sinh ngày 31/3/2018; anh T1 không cấp dưỡng nuôi con chung.
  • - Về án phí: Chị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

*Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền: Chị Đinh Thị A T khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Lê Hoài T1. Anh T1 có nơi thường trú ấp A, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn anh Lê Hoài T1 được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn như theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

* Về nội dung:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị T và anh T1 do tự tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại UBND phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 129 ngày 09/09/2016 phù hợp Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên hôn nhân giữa chị T và anh T1 là hợp pháp, phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.

Chị T khai, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống về tình cảm, không có tiếng nói chung và vợ chồng đã sống xa nhau từ tháng 10 năm 2023 cho đến nay. Nhận thấy, hạnh phúc vợ chồng không còn nên chị T kiên quyết yêu cầu được ly hôn với anh T1.

Theo kết quả xác minh (lấy lời khai ông Lê Văn P): Sau khi kết hôn anh T1 và chị T làm ăn, sinh sống tại thành phố L, tỉnh An Giang. Do đó, mâu thuẫn giữa vợ chồng anh T1 và chị T như thế nào ông P không biết. Anh T1 và chị T đã không còn sống chung với nhau.

Xét thấy, vợ chồng có nghĩa vụ chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng hạnh phúc. Vợ chồng chị T và anh T1 đã sống xa nhau gần một năm nay. Tòa án tổ chức hòa giải nhiều lần để tạo điều kiện cho anh T1 và chị T hàn gắn tình cảm, nhưng anh T1 vắng mặt và không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án.

Tình trạng vợ chồng chị T và anh T1 đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu tiếp tục duy trì hôn nhân thì khó xây dựng được gia đình hòa thuận, hạnh phúc và bền vững. Xét, cho chị T ly hôn với anh T1 là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[2] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị T và anh T1 có 01 (một) người con chung tên Lê Hoài Hương T2, sinh ngày 31/3/2018. Hiện bé T2 đang sinh sống với chị T. Chị T yêu cầu được nuôi dưỡng bé T2 và không yêu cầu cấp dưỡng. Theo lời khai ông P thì cháu T2 đang sống cùng chị T tại thành phố L, tỉnh An Giang.

Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu T2, cuộc sống của cháu cũng ổn định. Xét, giao cháu T2 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Chị T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh T1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

[3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị T khai, T3 thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí, chị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp. Anh T1 không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 147, khoản 2 Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị A T.

Chị Đinh Thị A T được ly hôn với anh Lê Hoài T1.

Giấy chứng nhận kết hôn số 129 do Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh An Giang cấp ngày 09 tháng 9 năm 2016 cho chị Đinh Thị A T và Lê Hoài T1 không còn giá trị pháp lý.

[2] Về con chung: Chị Đinh Thị A T được tiếp tục nuôi dạy con chung tên Lê Hoài Hương T2, sinh ngày 31/3/2018 cho đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động. Anh T1 không phải cấp nuôi con chung.

Chị T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh T1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

[3] Về án phí: Chị Đinh Thị A T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007784 ngày 25/3/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. Chị T đã nộp đủ án phí.

Anh Lê Hoài T1 không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

[4] Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị T có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Thời hạn kháng cáo của anh T1 là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh An Giang (01);
  • - VKSND TX. Tân Châu (02);
  • - Chi cục THADS TX. Tân Châu (01);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu văn phòng (2);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thùy Dương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2024/HNGĐ-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 67/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T yêu cầu ly hôn với T1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger