|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc — |
Bản án số 67/2024/DS-PT
Ngày 19/7/2024
“Tranh chấp di sản thừa kế”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Ngọc
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đức Anh và ông Trần Văn Lam
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Thái - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 167/2023/TLPT-DS ngày 28 tháng 12 năm 2023 về “Yêu cầu chia di sản thừa kế”, do Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2023/DS-ST ngày 20/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An bị kháng cáo theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 88/2024/QĐ-PT ngày 15 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Hồ Trọng N, sinh năm 1960; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khối Y, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An; nơi tạm trú: Xóm H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; có mặt.
Bị đơn:
- Bà Lý Thị T, sinh năm 1954;
- Chị Hồ Thị L, sinh năm 1982;
- Anh Hồ Trọng C, sinh năm 1984;
- Chị Hồ Thị H, sinh năm 1988;
Cùng nơi cư trú: Xóm H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An (bà T có mặt; chị L, anh C, chị H vắng mặt).
5. Chị Hồ Thị X, sinh năm 1979; nơi cư trú: Xóm C, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Hồ Thị T1, sinh năm 1956; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; vắng mặt.
- Bà Hồ Thị N1, sinh năm 1959; nơi cư trú: Thôn G, xã P, huyện K, tỉnh Đăk Lăk; vắng mặt;
- Ông Hồ Trọng S, sinh năm 1962; nơi cư trú: Xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; có mặt.
- Ông Hồ Trọng H1, sinh năm 1964; nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; vắng mặt.
- Bà Hồ Thị L1, sinh năm 1967; nơi cư trú: Thôn Đ, xã C, huyện C, tỉnh Đăk Lăk; vắng mặt.
- Bà Hồ Thị M, sinh năm 1969; nơi cư trú: Xóm E, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Bà Hồ Thị T2, sinh năm 1970; nơi cư trú: Xóm H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; vắng mặt;
Người đại diện theo ủy quyền của bà T1, bà N1, ông S, ông H1, bà L1, bà M và bà T2: Ông Hồ Trọng N, sinh năm 1960; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khối Y, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An; nơi tạm trú: Xóm H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm, vụ án có nội dung:
Theo đơn khởi kiện ngày 23/05/2023, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Hồ Trọng N trình bày:
Mẹ đẻ của ông là cụ Nguyễn Thị X1 là người được thi hành án theo Bản án số 179/2022/DS-PT ngày 27/06/2022 của Tòa án nhân dân Cấp Cao tại Hà Nội. Ông Hồ Trọng S1 là người có nghĩa vụ thi hành án, là anh trai ông. Theo Bản án trên quyết định:
“Buộc ông Hồ Trọng S1 phải trả cho cụ Nguyễn Thị X1 phần diện tích 295,57m (Trong đó 100m đất ở và 195,75m đất vườn) tại thửa đất số 661, tờ -13, hay la bản đồ số 3 (Bản đồ 299), sau đó là thửa đất số 118-75, nay là thửa đất số 110, tờ bản đồ số 21 tại xóm H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
Giao cho cụ X1 được quyền quản lý, sử dụng phần diện tích đất trên có tứ cận: Phía Đông giáp đường nông thôn, dài 0,69m + 11,81m; Phía Tây giáp phần đất ông Ngô Quang N2 (N4), dài 12,5m; Phía Nam giáp đường nhựa nông thôn, dài 23,21m + 0,45m; Phía Bắc giáp phần đất giao cho ông Hồ Trọng S1, dài 22,66m. Trên đất có các tài sản gồm: 01 nhà cấp bốn một tầng giáp hướng Tây, nền láng xi măng, mái ngói tường xây sò táp lô, trong nhà có gian bếp rộng 3,1m, dài 1m, 01 bể nước T. Tổng cộng diện tích 46,97m xây dựng năm 2017; 01 mái tôn diện tích 9,76m²'; sân bê tông diện tích 9,76m²”.
Ngày 27/03/2023 cụ Nguyễn Thị X1 chết không để lại di chúc, ngày 02/04/2023 ông Hồ Trọng S1 chết.
Sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật, cụ X1 đã làm đơn yêu cầu thi hành án, Chi cục thi hành án huyện Quỳnh Lưu đã ban hành Quyết định thi hành án số 106/QĐ-CCTHA ngày 05/04/2023. Ngày 28/04/2023 Chi cục thi hành án huyện Quỳnh Lưu ban hành Thông báo số 230/TB-CCTHADS, về việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án. Quá trình thi hành án, các đồng thừa kế của ông S1 là vợ và các con của ông S1 không hợp tác, không đồng ý giao đất cho các đồng thừa kế của cụ X1.
Quá trình chung sống, cụ Nguyễn Thị X1 và cụ Hồ Trọng C1 có 09 con chung là: Hồ Trọng S1 (sinh năm 1954, chết năm 2023, có vợ là Lý Thị T và có 04 người con chung Hồ Thị X, sinh năm 1979, Hồ Thị L, sinh năm 1982, Hồ Trọng C, sinh năm 1984 và Hồ Thị H, sinh năm 1988); bà Hồ Thị T1, sinh năm 1956; bà Hồ Thị N1, sinh năm 1959; ông Hồ Trọng N, sinh năm 1960; ông Hồ Trọng S, sinh năm 1962; ông Hồ Trọng H1, sinh năm 1964; bà Hồ Thị L1, sinh năm 1967; bà Hồ Thị M, sinh năm 1969; bà Hồ Thị T2, sinh năm 1970. Cụ X1 và cụ C1 không ai có con nuôi, con riêng. Bà T và ông S1 không ai có con nuôi, con riêng. Khi chết cụ X1 để lại di sản là 295,57m (trong đó 100m đất ở và 195,75m đất vườn) tại thửa đất số 661, tờ bản đồ số 3 (Bản đồ 299), sau đó là thửa đất số 118-75, nay là thửa đất số 110, tờ bản đồ số 21 tại xóm H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An và các tài sản trên đất theo Bản án của Tòa án nhân dân Cấp Cao tại Hà Nội.
Nay nguyên đơn ông Hồ Trọng N khởi kiện yêu cầu: Phân chia di sản thừa kế theo pháp luật của cụ Nguyễn Thị X1 để lại theo bản án số 179/2022/ DS- PT ngày 27/6/2022 của Tòa án nhân dân Cấp Cao tại Hà Nội là 295,57m² (Trong đó 100m² đất ở và 195,75m² đất vườn) tại thửa đất số 661, tờ bản đồ số 3 (Bản đồ 299), sau đó là thửa đất số 118-75, nay là thửa đất số 110, tờ bản đồ số 21 tại xóm H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Thửa đất có tứ cận: Phía Đông giáp đường nông thôn, dài 0,69m + 11,81m; phía Tây giáp phần đất ông Ngô Quang N2 (N), dài 12,5m; phía Nam giáp đường nhựa nông thôn, dài 23,21m + 0,45m; phía Bắc giáp phần đất giao cho ông Hồ Trọng S1, dài 22,66m tin và các tài sản trên đất cụ X1 để lại gồm: 01 nhà cấp bốn một tầng giáp đường hướng Tây, nền láng xi măng, mái ngói tường xây sò táp lô, diện tích 46,97m² xây dựng năm 2017, trị giá 70.000.000 đồng; 01 mái tôn diện tích 9,76m, trị giá 2.300.000 đồng; sân bê tông diện tích 9,76m², trị giá 1.100.000 đồng. Nguyên đơn có nguyện vọng được nhận kỷ phần thừa kế bằng hiện vật và tài sản trên đất do Xin để lại. Chia cho đồng thừa kế của ông S1 phần diện tích 32m² trong phần diện tích cụ X1 để lại, vị trí phần đất nằm ở phía Đông giáp ngõ đi.
Với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của bà Hồ Thị T1, bà Hồ Thị N1, ông Hồ Trọng S, ông Hồ Trọng H1, bà Hồ Thị L1, bà Hồ Thị M, bà Hồ Thị T2, ông Hồ Trọng N trình bày: Ông thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đối với kỷ phần thừa kế được nhận bà T1, ông N1, ông S, ông H1, bà L1, bà M và bà T2 thống nhất giao lại cho ông sử dụng, không yêu cầu ông trả giá trị bằng tiền cho những người nêu trên.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 23/06/2023, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn bà Lý Thị T trình bày:
Bà là vợ của ông Hồ Trọng S1, con dâu của cụ Nguyễn Thị X1. Cụ Xin chết ngày 27/03/2023, ông S1 chết ngày 02/4/2023. Cụ X1 chết không để lại di chúc. Ông S1 chết có di chúc để lại toàn bộ thửa đất số 661, tờ bản đồ số 3 (Bản đồ 299), sau đó là thửa đất số 118-75, nay là thửa đất số 110, tờ bản đồ số 21 tại xóm H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Quá trình chung sống cụ Nguyễn Thị X1 và cụ Hồ Trọng C1 có 09 con chung là Hồ Trọng S1, (sinh năm 1954, chết năm 2023, có vợ là Lý Thị T và có 04 người con chung là Hồ Thị X, sinh năm 1979, Hồ Thị L, sinh năm 1982, Hồ Trọng C, sinh năm 1984, Hồ Thị H, sinh năm 1988); bà Hồ Thị T1, sinh năm 1956; bà Hồ Thị N1, sinh năm 1959; ông Hồ Trọng N, sinh năm 1960;
ông Hồ Trọng S, sinh năm 1962; ông Hồ Trọng H1, sinh năm 1964; bà Hồ Thị L1, sinh năm 1967; bà Hồ Thị M, sinh năm 1969; bà Hồ Thị T2, sinh năm 1970. Cụ X1 và cụ C1 không ai có con nuôi, con riêng. Bà T và ông S1 không ai có con nuôi, con riêng.
Phần diện tích 295,75m² thuộc thửa đất số 661, tờ bản đồ số 3 (Bản đồ 299), sau đó là thửa đất số 118-75, nay là thửa đất số 110, tờ bản đồ số 21 tại xóm H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An mà nguyên đơn đang tranh chấp có nguồn gốc do cụ Nguyễn Thị X1 để lại. Ông Hồ Trọng S1 đã được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ đối với thửa đất trên. Bà không đồng ý phân chia phần diện tích 295,75m² trên theo pháp luật. Toàn bộ phần đất nói trên và các tài sản trên đất giao cho anh C được sử dụng và để làm nhà thờ cúng ông bà, tổ tiên. Nếu phải phân chia, bà đề nghị được nhận kỷ phần thừa kế bằng hiện vật và giao lại cho anh C sử dụng, không yêu cầu anh C phải trả lại cho bà giá trị bằng tiền.
Bà đã thông báo các văn bản tố tụng của tòa án và thông báo nội dung khởi kiện của nguyên đơn cho chị Hồ Thị H và chị Hồ Thị L được biết, nhưng do công việc chị H, chị L không sắp xếp thời gian về tại Tòa án để giải quyết vụ án. Chị H và chị L thống nhất với ý kiến của bà, anh C và chị X; không đồng ý phân chia phần diện tích 295,75m² nêu trên theo pháp luật là toàn bộ tài sản trên đất do cụ X1 xây dựng; để lại làm nhà thờ, giao cho anh C quản lý, sử dụng vì phần đất trên đã nằm trong phần đất được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ cho ông Hồ Trọng S1.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 23/06/2023 và tại phiên tòa bị đơn anh Hồ Trọng C trình bày: Anh là con trai trưởng của ông Hồ Trọng S1, là cháu nội của cụ X1 và cụ C1. Anh thống nhất với lời khai của mẹ anh là bà T về họ tên, năm sinh, năm mất của cụ X1, cụ C1 và ông S1. Cụ Xin chết ngày 27/03/2023, anh không biết cụ có để lại di chúc hay không. Ông S1 chết ngày 02/04/2023. Ông S1 để lại di chúc ngày 09/05/2022, có nội dung: “Gia đình tôi có tổng diện tích là 587m vuông trong đó có 200 mét vuông đất ở cố định còn lại 12 thước đất theo Nghị định 64. Trong gia đình có 8 khẩu, riêng bố mẹ đã trích 2 khẩu ra đồng sử dụng từ lâu. Còn 6 khẩu (mỗi khẩu 3 thước) được quyền canh tác”. Di chúc được xác nhận của trưởng thôn 8. Phần diện tích 295,75m², gồm 100m² đất ở và 195,75m² đất vườn tại thửa đất số 661, tờ bản đồ số 3 (Bản đồ 299), sau đó là thửa đất số 118-Long 75, nay là thửa đất số 110, tờ bản đồ số 21 tại xóm H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An và các tài sản trên phần đất đó từ ngày cụ X1 chết con cái thay nhau đi
lại trông nom, không ai ở cố định ở đó cả. Hiện trạng sử dụng đất không thay đổi, phần đất này chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên cụ X1. Ông S1 là con trai trưởng, trưởng chi họ, hiện anh là con trai trưởng trực tiếp thờ cúng nên anh không đồng ý chia phần diện tích đất trên theo pháp luật, theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án Cấp Cao tại Hà Nội đã lấy đất 64/CP (Đất ăn chia nhân khẩu) của gia đình anh để chia cho cụ X1 là không đúng. Anh yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu lấy số diện tích trong 200m² đất ở theo quy định, rồi chia đôi cho hai gia đình mới hợp lý. Đề nghị Tòa án tuyên diện tích 100m² đất ở được phân chia cho cụ X1 để xây dựng nhà thờ, không chia cho bất cứ đứa con nào; số diện tích đất trồng cây hằng năm thì phải trả lại cho gia đình để sản xuất nông nghiệp.
Tại phiên tòa chị Hồ Thị X thống nhất với lời trình bày và nguyện vọng của bà T và anh C: Không có ý kiến bổ sung.
Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, biên bản định giá ngày 03/08/2023, như sau:
Phần diện tích 295,57m² (trong đó 100m² đất ở và 195,75m² đất vườn) tại thửa đất số 661, tờ bản đồ số 3 (Bản đồ 299), sau đó là thửa đất số 118-75, nay là thửa đất số 110, tờ bản đồ số 21 (diện tích thực tế 300,8m²) tại xóm H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Phần diện tích đất trên có tứ cận: Phía Đông giáp đường nông thôn, dài 0,69m + 11,81m; phía Tây giáp phần đất ông Ngô Quang N2 (N), dài 12,5m; phía Nam giáp đường nhựa nông thôn, dài 23,21m + 0,45m; phía Bắc giáp phần đất giao cho ông Hồ Trọng S1, dài 22,66m. Đất ở trị giá 6.000.000đ/m², đất vườn trị giá 3.000.000đ/m2. Phần đất có giá trị 1,187.250.000đ (Một tỷ một trăm tám mươi bảy triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).
Trên đất có các tài sản gồm: 01 nhà cấp bốn, một tầng giáp đường hướng Tây, nền láng xi măng, mái ngói tường xây sò táp lô, trong nhà có gian bếp rộng 3,1m, dài 1m; 01 bể nước T; diện tích 46,97m² xây dựng năm 2017. Tổng giá trị công trình 70.000.000đ (Bảy mươi triệu đồng); 01 mái tôn rộng 1,6m, dài 1,6m, diện tích 9,76m²; trị giá 2.300.000đ (Hai triệu ba trăm nghìn đồng); 01 sân bê tông rộng 9,76m, có trị giá 1.100.000₫ (Một triệu một trăm nghìn đồng). Ngõ đi đổ đá bây, không láng xi măng, diện tích 42,34m² do bà T xây dựng, có trị giá 2.200.000₫ (Hai triệu hai trăm nghìn đồng); (phần diện tích ngõ nằm trong phần diện tích tranh chấp có chiều rộng 2m, chiều dài 12,5m, diện tích 25m²; trị giá 1.300.000 đồng).
Bản án số 25/2023/DS-ST ngày 20/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An đã quyết định: Căn cứ các Điều 149, 609, 611, 612, 613, 614, 623, 649, 650, 651 và 652 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 166, 167 của Luật đất đai năm 2013; các Điều 33 và 66 Luật Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hồ Trọng N. Phân chia phần diện tích 295,75m² (trong đó 100m² đất ở và 195,75m² đất vườn) tại thửa đất số 661, tờ bản đồ số 3 (Bản đồ 299), nay là thửa đất số 110, tờ bản đồ số 21 tại xóm H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An và các tài sản trên đất theo Bản án số 179/2022/DS-PT ngày 27/06/2022 của Tòa án cấp cao tại Hà Nội theo pháp luật.
2.1. Giao cho ông Hồ Trọng N được quyền sử dụng phần diện tích đất 249,5m² (Trong đó 80 m² đất ở và 169,5m² đất vườn), trị giá 988.500.000đ (Chín trăm tám mươi tám triệu năm trăm nghìn đồng) và các tài sản trên đất.
2.2. Giao cho anh Hồ Trọng C được quyền sử dụng phần diện tích 51,3m²
2.3. Anh Hồ Trọng C có nghĩa vụ giao cho ông Hồ Trọng N, bà Hồ Thị T1, bà Hồ Thị N1, ông Hồ Trọng S, ông Hồ Trọng H1, bà Hồ Thị L1, bà Hồ Thị M và bà Hồ Thị T2 số tiền 81.990.000₫ (T3 mươi mốt triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng) giá trị kỷ phần thừa kế anh C được nhận.
2.4. Ông Hồ Trọng N, bà Hồ Thị T1, bà Hồ Thị N1, ông Hồ Trọng S, ông Hồ Trọng H1, bà Hồ Thị L1, bà Hồ Thị M và bà Hồ Thị T2 được nhận số tiền 81.990.000₫ (T3 mươi mốt triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng) do anh C giao lại.
2.5. Ông Hồ Trọng N có nghĩa vụ giao cho anh Hồ Trọng C số tiền 8.155.000₫ (Tám triệu một trăm năm mươi lăm nghìn đồng) giá trị kỷ phần thừa kế đối với tài sản trên đất và giao cho bà Lý Thị T 1.300.000đ (một triệu ba trăm nghìn đồng) giá trị ngõ đi do bà T xây dựng nằm trong phần đất được giao.
2.6. Anh Hồ Trọng C được nhận số tiền 8.155.000đ (Tám triệu một trăm năm mươi lăm nghìn đồng) do ông N giao lại. Bà Lý Thị T được nhận số tiền 1.300.000đ (Một triệu ba trăm nghìn đồng) do ông N giao lại.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 04/10/2023, bà Lý Thị T kháng cáo toàn bộ bản án nêu trên với các lý do: Tòa án lấy đất tiêu chuẩn sản xuất nông nghiệp trong vườn để chia thừa kế là không phù hợp, cụ X1 chết không để lại di chúc thì đất đó làm nơi thờ cúng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn bà Lý Thị T giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Nguyên đơn không chấp nhận kháng cáo của bị đơn đề nghị giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án và các bên đương sự chấp hành đúng các quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của bà Lý Thị T, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh tụng và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa phúc thẩm. Xét kháng cáo của bị đơn bà Lý Thị T, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Bị đơn bà Lý Thị T làm đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, nạp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo quy định nên xác định kháng cáo hợp lệ.
[1.2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Một số bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228, 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[1.3] Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ nội dung đơn khởi kiện của ông Hồ Trọng N về việc yêu cầu chia di sản thừa kế theo pháp luật là quyền sử dụng đất tại xóm H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An của cụ X1 để lại, Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là chia di sản thừa kế, đang trong thời hiệu khởi kiện và thụ vụ án để lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo
quy định tại các Điều khoản 5 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung:
[2] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn bà Lý Thị T, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1] Về di sản thừa kế: Bản số 179/2022/DS-PT của ngày 27/06/2022 của Tòa án nhân dân Cấp Cao tại Hà Nội có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 27/06/2022, các đương sự không có đơn yêu cầu đề nghị xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm; người có thẩm quyền kháng nghị không kháng nghị. Do đó, cụ X1 đã có đơn yêu cầu thi hành án bản án trên. Ngày 27/03/2023 cụ X1 chết. Ngày 05/04/2023 Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu ban hành Quyết định thi hành án số 106/QĐ-CCTHA để thi hành bản án trên theo đơn yêu cầu thi hành án của cụ Nguyễn Thị X1. Tuy nhiên bà T, anh C, chị X, chị L và chị H đều không đồng ý bàn giao di sản. Tuy cụ X1 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích được giao theo Bản án số 179/2022/DS-PT ngày 27/06/2022, nhưng căn cứ các Điều 235, 612 Bộ luật dân sự năm 2015; điểm d khoản 1 Điều 99, khoản 3 Điều 100 Luật đất đai 2013, có cơ sở xác định quyền sử dụng 295,57m² (Trong đó 100m² đất ở và 195,75m² đất vườn) tại thửa đất số 661, tờ bản đồ số 3 (Bản đồ 299), sau đó là thửa đất số 118-75, nay là thửa đất số 110, tờ bản đồ số 21, diện tích 300,8m², tại xóm H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An có tứ cận: Phía Đông giáp đường nông thôn, dài 0,69m + 11,81m; phía Tây giáp phần đất ông Ngô Quang N2 (N), dài 12,5m; phía Nam giáp đường nhựa nông thôn, dài 23,21m + 0,45m; phía Bắc giáp phần đất giao cho ông Hồ Trọng S1, dài 22,66m, có trị giá 1.187.250.000đ (Một tỷ một trăm tám mươi bảy triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) và các tài sản trên đất gồm: 01 nhà cấp bốn một tầng giáp đường hướng Tây, nền láng xi măng, mái ngói tường xây sò táp lô, trong nhà có gian bếp rộng 3,1m, dài 1m, 01 bể nước T; tổng diện tích 46,97m² xây dựng năm 2017. Tổng giá trị công trình 70.000.000₫ (Bảy mươi triệu đồng); 01 mái tôn rộng 1,6m, dài 1,6m có diện tích 9,76m²; trị giá 2.300.000₫ (Hai triệu ba trăm nghìn đồng); 01 sân bê tông rộng 1,6m, dài 6,1m diện tích 9,76m², có trị giá 1.100.000₫ (Một triệu một trăm nghìn đồng) là tài sản của cụ X1. Cụ X1 chết không để lại di chúc. Di sản cụ X1 để lại là diện tích đất 295,57m² và các tài sản đã nêu ở trên.
[2.2] Về hàng thừa kế: Cụ Nguyễn Thị X1 và cụ Hồ Trọng C1 có 09 con chung là Hồ Trọng S1 (sinh năm 1954, chết năm 2023, có vợ là Lý Thị T và 04
người con chung là Hồ Thị X, Hồ Thị L, Hồ Trọng C, và Hồ Thị H); bà Hồ Thị T1, sinh năm 1956; bà Hồ Thị N1, sinh năm 1959; ông Hồ Trọng N, sinh năm 1960; ông Hồ Trọng S, sinh năm 1962; ông Hồ Trọng H1, sinh năm 1964; bà Hồ Thị L1, sinh năm 1967; bà Hồ Thị M, sinh năm 1969; bà Hồ Thị T2, sinh năm 1970. Cụ X1 và cụ C1 không ai có con nuôi, con riêng. Bà T và ông S1 không ai có con nuôi, con riêng.
Cụ X1 chết ngày 27/03/2023 không để lại di chúc, ông S1 chết ngày 02/04/2023. Ông S1 chết sau cụ X1 nên phần thừa kế của ông S1 được chuyển tiếp cho vợ và các con ông là bà T, anh C, chị X, chị L và chị H.
Căn cứ quy định tại các Điều 613, 651 Bộ luật dân sự năm 2015 thì bà T1, bà N1, ông N, ông S, ông H1, bà L1, bà M, bà T2, bà T, anh C, chị X, chị L và chị H là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ X1.
[2.3] Về thời hiệu chia thừa kế của cụ X1: Cụ Xin chết ngày 27/03/2023. Ngày 24/05/2023 nguyên đơn ông Hồ Trọng N khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế đối với di sản thừa kế của cụ X1 để lại. Căn cứ khoản 1 Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015, ông Hồ Trọng N khởi kiện yêu cầu chia thừa kế trong thời hiệu luật định.
[2.4] Về chia thừa kế:
[2.4.1] Đối với di sản thừa kế là quyền sử dụng đất: Cụ X1 chết không để lại di chúc. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 650 Bộ luật dân sự năm 2015, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu chia di sản thừa kế theo pháp luật của nguyên đơn ông Hồ Trọng Nghĩa 1 có căn cứ và đúng pháp luật.
Di sản của cụ Nguyễn Thị X1 để lại là 295,75m² (Trong đó 100m² đất ở và 195,75m² đất vườn) chia đều cho 09 người con (295,75m : 09 = 32,86m), mỗi kỷ phần thừa kế được hưởng 32,86m (Trong đó 11,11m² đất ở và 21,75m² đất vườn), trị giá 131.910.000 đồng. Ông S1 chết ngày 02/04/2023, chết sau cụ X1 nên kỷ phần của ông S1 được hưởng giao lại cho bà T, anh C, chị H, chị L và chị X. Bà T, chị X đều có nguyện vọng giao lại kỷ phần thừa kế mình được hưởng cho anh C, không yêu cầu anh C trích trả giá trị bằng tiền.
Tuy nhiên căn cứ vào hiện trạng sử dụng đất, căn cứ điểm a khoản 2 Điều 14 Quyết định số 28/2021/QĐ-UBND, ngày 17/09/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh N ban hành quy định về cấp lần đầu, cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng trên địa bàn tỉnh Nghệ An quy định: “Tại địa bàn các phường, xã thuộc thành phố V, thị trấn các huyện và các phường, xã ven biển, bãi ngang là 50m² và chiều bám đường giao thông chính dần không được thấp hơn 4m và chiều sâu thửa đất cạnh vuông góc với đường giao thông tối thiểu là 4m;” Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm giao cho anh C được sử dụng phần diện tích 51,3m² (Trong đó 20m² đất ở và 31,3m² đất vườn), trị giá 213.900.000 đồng, lớn hơn phần diện tích được hưởng để đảm bảo điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau này và đảm bảo diện tích sử dụng thực tế. Phần diện tích vượt quá này, anh C phải bù chênh lệch cho các đồng thừa kế khác, đồng thời buộc anh C trả cho các đồng thừa kế còn lại của cụ X1 gồm: Ông N, bà T1, bà N1, ông S, ông H1, bà L1, bà M, bà T2 giá trị kỷ phần thừa kế vượt quá là 81.990.000 đồng là có căn cứ và đúng pháp luật.
Nguyên đơn ông Hồ Trọng N có nguyện vọng được nhận kỷ phần thừa kế bằng hiện vật. Bà T1, bà N3, ông S, ông H1, bà L1, bà M và bà T2 đều thỏa thuận giao lại kỷ phần thừa kế của mình cho ông N được hưởng, không yêu cầu ông N trả giá trị bằng tiền. Xét thấy phần diện tích đất sau khi trừ đi phần đất giao cho anh C, còn lại là 249,5m² (Trong đó 80m² đất ở và 169,5m² đất vườn), trị giá 988.500.000 đồng. Phần đất có tứ cận: Phía Bắc giáp phần đất giao cho ông Hồ Trọng S1 (Theo bản án số 179/2022/PT-DS ngày 27/06/2022), dài 20,15m; phía Nam giáp đường nhựa nông thôn, dài 19,63m; phía Đông giáp phần đất giao cho anh Hồ Trọng C, dài 12,61m; phía Tây giáp thửa đất số 141, dài 12,5m. Trên đất có 01 ngõ đi do bà T tự mở; ông N có nghĩa vụ trả lại cho bà T giá trị phần ngõ đi là 1.300.000 đồng và được nhận giá trị kỷ phần vượt quá do anh C giao lại.
Quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm, Tòa án chưa thu thập ý kiến của bà T1, bà N1, ông S, ông H1, bà L1, bà M và bà T2, chị L, chị H đối với kỷ phần thừa kế được hưởng là thiếu sót. Tuy nhiên, chị L, chị H đã được Tòa án triệu tập nhiều lần, tống đạt bản án và văn bản tố tụng hợp lệ thông qua bà T, chị L, chị H không có ý kiến phản hồi, không kháng cáo bản án sơ thẩm, thể hiện đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm. Tại cấp phúc thẩm bà T1, bà N1, ông H1, bà L1, bà M và bà T2 đã có văn bản nêu ý kiến gửi đến Tòa án và đều tự nguyện giao phần di sản thừa kế được hưởng cho ông Hồ Trọng N. Tại phiên tòa, ông S cũng đồng ý tự nguyện giao phần di sản ông S được hưởng cho ông N. Do đó, việc Tòa án
cấp sơ thẩm giao cho anh C phần diện tích đất 51,3m² (Trong đó 20m² đất ở và 31,3m² đất vườn), và giao cho ông N phần diện tích đất còn lại 249,5m² là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
[2.4.2] Chia di sản là tài sản trên đất: Di sản là tài sản trên đất do cụ X1 để lại gồm: 01 nhà cấp bốn một tầng giáp đường hướng Tây, nền láng xi măng, mái ngói tường xây sò táp lô, trong nhà có gian bếp rộng 3,1m, dài 1m, 01 bể nước T; tổng diện tích 46,97m² xây dựng năm 2017. Tổng giá trị công trình 70.000.000 đồng; 01 mái tôn rộng 1,6m, dài 1,6m, diện tích 9,76m², trị giá 2.300.000đồng; 01 sân bê tông rộng 1,6m, dài 6,1m, diện tích 9,76m², trị giá 1.100.000 đồng. Tổng giá trị các tài sản trên đất do cụ X1 để lại là 73.400.000đ (Bảy mươi ba triệu bốn trăm nghìn đồng). Chia giá trị tài sản cho 09 người thuộc hàng thừa kế thứ nhất (73.400.000₫ : 09=8.155.000đ). Xét vị trí các tài sản trên đất đều nằm trong phần diện tích đất giao cho ông N nên giao cho ông N được quyền sở hữu, sử dụng. Ông N có nghĩa vụ giao lại cho anh C giá trị kỷ phần thừa kế tài sản trên đất là 8.155.000 đồng.
Cụ X1 chết không để lại di chúc, ông N khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ các tài liệu, chứng cứ xác định di sản thừa kế, hàng thừa kế, thời hiệu chia di sản thừa kế và chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật là có căn cứ, đúng pháp luật.
Bà T kháng cáo bản án sơ thẩm với các lý do Tòa án lấy đất tiêu chuẩn sản xuất nông nghiệp trong vườn để chia thừa kế là không phù hợp, cụ X1 chết không để lại di chúc thì đất đó làm nơi thờ cúng. Tại cấp phúc thẩm, bà T không xuất trình được tài liệu gì chứng minh đó là đất tiêu chuẩn sản xuất nông nghiệp của vợ chồng bà được chia, không cung cấp được tài liệu thể hiện cụ X1 có ý nguyện để lại đất để làm nhà thờ. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà T, cần giữa nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
[3] Án phí: Kháng cáo của bà T không được chấp nhận, do đó bà T phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên bà T là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của bà Lý Thị T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
2. Căn cứ các Điều 149, 609, 611, 612, 613, 614, 623, 649, 650, 651 và 652 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 166, 167 của Luật đất đai năm 2013; các Điều 33 và 66 Luật Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; các Điều 12, 14, 26 và 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hồ Trọng N.
Phân chia phần diện tích 295,75m² (Trong đó 100m² đất ở và 195,75m² đất vườn) tại thửa đất số 661, tờ bản đồ số 3 (Bản đồ 299), sau đó là thửa đất số 118-75, nay là thửa đất số 110, tờ bản đồ số 21 (Diện tích thực tế 300,8m²) tại xóm H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, có tứ cận: Phía Đông giáp đường nông thôn, dài 0,69m + 11,81m; phía Tây giáp phần đất ông Ngô Q + Nam (N), dài 12,5m; phía Nam giáp đường nhựa nông thôn, dài 23,21m + 0,45m; phía Bắc giáp phần đất giao cho ông Hồ Trọng S1, dài 22,66m và các tài sản trên đất gồm: 01 nhà cấp bốn một tầng giáp đường hướng Tây, nền láng xi măng, mái ngói tường xây sò táp lô, trong nhà có gian bếp rộng 3,1m, dài 1m; 01 bể nước T có tổng diện tích 46,97m², xây dựng năm 2017. Tổng giá trị công trình 70.000.000₫ (Bảy mươi triệu đồng); 01 mái tôn rộng 1,6m, dài 6,1m diện tích 9,76m², trị giá 2.300.000₫ (Hai triệu ba trăm nghìn đồng); 01 sân bê tông rộng 1,6m, dài 6,1m có diện tích 9,76m², trị giá 1.100.000đ (Một triệu một trăm nghìn đồng) theo Bản án số 179/2022/DS-PT ngày 27/06/2022 của Tòa án cấp cao tại Hà Nội theo pháp luật.
2.1. Giao cho ông Hồ Trọng N được quyền sử dụng phần diện tích đất 249,5m² (Trong đó 80m² đất ở và 169,5m² đất vườn), trị giá 988.500.000đ (Chín trăm tám mươi tám triệu năm trăm nghìn đồng). Phần đất giao cho ông N có tứ cận: Phía Bắc giáp phần đất giao cho ông Hồ Trọng S1 (Theo Bản án số 179/2022/PT-DS ngày 27/06/2022), dài 20,15m; phía Nam giáp đường nhựa nông thôn, dài 19,63m; phía Đông giáp phần đất giao cho anh Hồ Trọng C, dài 12,61m; phía Tây giáp thửa đất số 141, dài 12,5m.
Giao cho ông Hồ Trọng N được quyền sở hữu, sử dụng các tài sản trên đất gồm: 01 nhà cấp bốn một tầng giáp đường hướng Tây, nền láng xi măng, mái ngói tường xây sò táp lô, trong nhà có gian bếp rộng 3,1m, dài 1m; 01 bể nước T có tổng diện tích 46,97m², xây dựng năm 2017. Tổng giá trị công trình 70.000.000₫ (Bảy mươi triệu đồng); 01 mái tôn rộng 1,6m, dài 6,1m, diện tích 9,76m², trị giá 2.300.000₫ (Hai triệu ba trăm nghìn đồng); 01 sân bê tông rộng 1,6m, dài 6,1m, diện tích 9,76m², trị giá 1.100.000đ (Một triệu một trăm nghìn đồng).
2.2. Giao cho anh Hồ Trọng C được quyền sử dụng phần diện tích 51,3m² (Trong đó 20m² đất ở và 31,3m² đất vườn) trị giá 213.900.000₫ (Hai trăm mười ba triệu chín trăm nghìn đồng). Phần đất giao cho anh C có tứ cận: Phía Bắc giáp phần đất giao cho ông Hồ Trọng S1 (theo bản án 179/2022/PT-DS ngày 26/7/2022), dài 4m; phía Nam giáp đường nhựa nông thôn, dài 2,33m +1,24m + 0,45m; phía Đông giáp ngõ đi chung, dài 0,69m + 3,75m + 8,06m; phía Tây giáp phần đất còn lại của cụ X1, dài 12,61m.
2.3. Anh Hồ Trọng C có nghĩa vụ giao cho ông Hồ Trọng N, bà Hồ Thị T1, bà Hồ Thị N1, ông Hồ Trọng S, ông Hồ Trọng H1, bà Hồ Thị L1, bà Hồ Thị M và bà Hồ Thị T2 số tiền 81.990.000₫ (T3 mươi mốt triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng) giá trị kỷ phần thừa kế anh C được nhận.
2.4. Ông Hồ Trọng N, bà Hồ Thị T1, bà Hồ Thị N1, ông Hồ Trọng S, ông Hồ Trọng H1, bà Hồ Thị L1, bà Hồ Thị M và bà Hồ Thị T2 được nhận số tiền 81.990.000₫ (T3 mươi mốt triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng) do anh C giao lại.
2.5. Ông Hồ Trọng N có nghĩa vụ giao cho anh Hồ Trọng C số tiền 8.155.000₫ (Tám triệu một trăm năm mươi lăm nghìn đồng) giá trị kỷ phần thừa kế đối với tài sản trên đất và giao cho bà Lý Thị T 1.300.000đ (Một triệu ba trăm nghìn đồng) giá trị ngõ đi do bà T xây dựng nằm trong phần đất được giao.
2.6. Anh Hồ Trọng C được nhận số tiền 8.155.000đ (Tám triệu một trăm năm mươi lăm nghìn đồng) do ông N giao lại. Bà Lý Thị T được nhận số tiền 1.300.000đ (Một triệu ba trăm nghìn đồng) do ông N giao lại.
Các đương sự có nghĩa vụ giao cho nhau quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản được nhận, có quyền và nghĩa vụ đến Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
3. Án phí: Ông Hồ Trọng N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 28.012.000₫ (Hai mươi tám triệu không trăm mười hai nghìn đồng). Anh Hồ Trọng C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 4.201.000₫ (Bốn triệu hai trăm linh một nghìn đồng).
4. Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp Cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hánh án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
5. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi Thi hành án dân sự. hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thúy Ngọc |
Bản án số 67/2024/DS-PT ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp di sản thừa kế
- Số bản án: 67/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp chia di sản thừa kế N T
