|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 67/2024/HS-ST Ngày 19-7-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Văn Bình
Ông Nguyễn Văn Cho
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Lý Minh Tồn - Kiểm sát viên
Ngày 19 tháng 7 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 67/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị H, sinh ngày 09 tháng 02 năm 1986 tại A, Kiên Giang; CCCD [...]; Nơi cư trú: ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nữ; Nghề nghiệp: Nông dân; trình độ văn hóa: 5/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị Ú; chồng Nguyễn Văn Ú1, con: có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2009; Tiền án; tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 15 giờ 00 phút ngày 14/01/2024, Công an xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang tiến hành bắt quả tang Nguyễn Thị H, thường trú: ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang đang thực hiện hành vi đánh bạc, bằng hình thức bán số đề. Tang vật thu giữ gồm: 02 (hai) phơi số đề, ghi trong tờ giấy tập, trong đó, 01 phơi số đề bán ngày 14/01/2024, 01 phơi số đề bán ngày 13/01/2024; 01 (Một) điện thoại di động VIVO 1906, đã qua sử dụng; tiền Việt Nam: 330.000₫ (Ba trăm ba mươi nghìn đồng).
Qua kiểm tra phơi số đề, ghi trên tờ giấy tập, bán vào ngày 14/01/2024, xác định Nguyễn Thị H bán số đề các đài xổ số kiến thiết các tỉnh Miền Nam gồm: Kiên Giang, Tiền Giang, Đà lạt, được tổng số tiền 2.400.000đ (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng). Trong đó, đài K bán được tổng số tiền 2.160.000 đồng; đài K bán được tổng số tiền 120.000 đồng; đài Đà Lạt bán được tổng số tiền 120.000 đồng.
Qua kiểm tra phơi số đề, ghi trên tờ giấy tập, bán vào ngày 13/01/2024, xác định Nguyễn Thị H bán số đề các đài xổ số kiến thiết các tỉnh Miền Nam gồm: Long An, Hậu Giang, Bình Phước, thành phố Hồ Chí Minh, được tổng số tiền 2.875.000đ (Hai triệu tám trăm bảy mươi lăm nghìn đồng). Trong đó, đài L1 bán được tổng số tiền 1.465.000 đồng; đài K bán được tổng số tiền 610.000 đồng; đài B bán được tổng số tiền 600.000 đồng; đài Thành phố H bán được tổng số tiền 200.000 đồng. Riêng đài xổ số kiến thiết tỉnh Nam Định (M) bán được tổng số tiền 720.000 đồng.
Đối chiếu với kết quả mở thưởng trong ngày 13/01/2024, các đài xổ số kiến thiết Miền Nam, xác định có các con số trúng thưởng với số tiền cụ thể như sau: Đài L, số đầu 50 trúng thưởng với số tiền là 20.000 đồng x 80 lần = 1.600.000 đồng; số lô 47 trúng thưởng với số tiền là 10.000 đồng x 80 lần = 800.000 đồng, tổng số tiền trúng thưởng đài Long An là 2.400.000 đồng. Đài B, số lô 47 trúng thưởng với số tiền là 10.000 đồng x 80 lần = 800.000 đồng; số lô 67 trúng thưởng với số tiền là 10.000 đồng x 80 lần = 800.000 đồng, tổng số tiền trúng thưởng đài Bình Phước là 1.600.000 đồng. Tổng số tiền trúng thưởng các đài xổ số kiến thiết Miền Nam là 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng).
Như vậy, tổng số tiền Nguyễn Thị H đánh bạc trong ngày 13/01/2024 là 6.875.000 đồng (Sáu triệu tám trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
Tại Cơ quan điều tra, bị can Nguyễn Thị H khai nhận tham gia đánh bạc bằng hình thức bán số đề được 02 ngày (ngày 13/01/2024 và ngày 14/01/2024). Hình thức bán số đề là dựa vào kết quả xổ số kiến thiết các tỉnh Miền Nam và Miền Bắc hàng ngày để bán số đầu, tức là 02 con số của giải tám; số đuôi, tức là 02 con số cuối giải đặc biệt; số lô, tức là hai con số cuối tất cả các giải thưởng. Mức độ quy định thắng thua đối với số đầu, số đuôi và số lô là mua 01 thắng được 80 lần, tức là mua 1.000đ nếu trúng thưởng được trả 80.000đ, theo đó số đầu và số đuôi mua 01 trả 01, tức mua 1.000₫ phải trả 1.000đ; số lô mua 01 trả 15 lần, tức mua 1.000₫ phải trả 15.000đ (tính tiền 15 lô). Khi bán số đề, bị can Nguyễn Thị H ghi số vào tờ giấy tập, gọi là phơi, bán cho người quen qua mạng xã hội, có lưu giữ lại trong điện thoại cá nhân. Quá trình tham gia đánh bạc bằng hình thức bán số đề, bị can H tự bán, tự trả thưởng, không giao nộp phơi cho ai để hưởng huê hồng. Trong 02 ngày đánh bạc, bị can H bán được thấp nhất số tiền 2.400.000 đồng, cao nhất số tiền 2.875.000 đồng. Trong 02 ngày tham gia đánh bạc, bị can H bán đề được tổng số tiền 5.275.000 đồng, trừ số tiền trả thưởng ngày 13/01/2024 là 4.000.000 đồng, bị can H còn thu lợi được số tiền 1.275.000 đồng.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A đã thu giữ vật chứng gồm:
- 02 (hai) phơi số đề bán ngày 13/01/2024 và ngày 14/01/2024, ghi trong tờ giấy tập, đã đưa vào hồ sơ vụ án.
- 01 (Một) điện thoại di động VIVO 1906, đã qua sử dụng, xác định là phương tiện bị can Nguyễn Thị H dùng để thực hiện hành vi đánh bạc.
- Tiền Việt Nam: 330.000₫ (Ba trăm ba mươi nghìn đồng), xác định là số tiền dùng để đánh bạc (Đã tạm nộp vào kho bạc nhà nước).
Tại Cáo trạng số 44/CT-VKS-AM ngày 26-4-2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Nguyễn Thị Hiền về tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
- Kiểm sát viên kết luận bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội đánh bạc và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hiền t 01 năm 06 tháng đến 02 năm cải tạo không giam giữ; phạt bổ sung từ 10 đến 20 triệu đồng; Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (Một) điện thoại di động VIVO 1906, đã qua sử dụng; tiền bán số đề 330.000 đồng và tiền thu lợi bất chính 1.275.000 đồng.
- Bị cáo trình bày: Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi vi phạm đúng như cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát đã nêu, không đối đáp tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng bị cáo trình bày đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân đã thực hiện, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội, tội danh:
[2.1] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Ngày 14/01/2024 tại ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang, Nguyễn Thị H đang thực hiện hành vi đánh bạc thì bị bắt quả tang. Qua khai thác xác định vào ngày 13/01/2024 Nguyễn Thị H có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức bán số đề (số đầu, số đuôi, số lô) các đài Long An, Hậu Giang, Bình Phước và thành phố Hồ Chí Minh được số tiền 2.875.000 đồng, tổng số tiền trúng thưởng là 4.000.000 đồng, tổng cộng 6.875.000 đồng. Bị cáo tự bán, tự trả thưởng, không nộp phơi cho ai, quá trình bán số đề thu lợi bất chính được số tiền 1.275.000 đồng.
[2.2] Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; nhận thức được việc bán số đề được thua bằng tiền cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện; bị cáo đã có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức bán số đề được thua bằng tiền với số tiền đánh bạc vào ngày 13/01/2024 trên 5.000.000 đồng. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo phạm tội đánh bạc được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Về hình phạt:
[3.1] Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng hành vi phạm tội là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, là nguyên nhân làm gia tăng tệ nạn xã hội và sự bất bình trong nhân dân. Bị cáo liên tục thực hiện hành vi bán số đề trong nhiều ngày cho thấy chưa chấp hành tốt pháp luật nên cần có hình thức xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính; có thân nhân là người có công với cách mạng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[3.3] Về quyết định hình phạt, HĐXX thấy rằng bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tỏ rõ thái độ quyết tâm sửa chữa lỗi lầm bằng cách nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính. Do đó, không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần xử phạt bằng hình phạt cải tạo không giam giữ là phù hợp với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo, nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Xét thấy bị cáo có nghề nghiệp với thu nhập không ổn định, khó đảm bảo việc thi hành án nên miễn khấu trừ thu nhập.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, HĐXX nhận thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung để tăng tính răn đe. Tuy nhiên, nhận thấy bị cáo có thu nhập thấp, không ổn định nên cần cân nhắc để có mức phạt phù hợp, đảm bảo khả năng thi hành án của bị cáo.
[5] Về vật chứng, công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội là 01 (Một) điện thoại hiêu VIVO1906, đã qua sử dụng; số tiền thu lợi bất chính 1.275.000 đồng và tiền bán số đề 330.000 đồng cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[6] Về án phí, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[7] Đối với Trần Thị H1, Võ Kim C, Nguyễn Thị L, Võ Văn Đ có hành vi đánh bạc trái phép nhưng chưa đủ định lượng để xử lý hình sự, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội Đánh bạc.
1.1- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Nguyễn Thị H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành án.
Miễn việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo trong giai đoạn thi hành án.
1.2- Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 321 và Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H số tiền 10.000.000 đồng.
2- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
+ 01 (Một) điện thoại di động hiệu VIVO1906 (hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh đang quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 20/QĐ-VKS-AM ngày 26-4-2024 của VKSND huyện An Minh);
+ Số tiền bán số đề là 330.000 đồng (cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A đã nộp vào tài khoản số 7710203000019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh tại Kho bạc Nhà nước huyện A vào ngày 27/3/2024);
+ Số tiền thu lợi bất chính của bị cáo Nguyễn Thị H là 1.275.000 đồng (bị cáo H đã nộp tại biên lai thu số 0004007 ngày 15-4-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh).
3- Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 19-7-2024)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Lê Chí Công |
Bản án số 67/2024/HS-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc)
- Số bản án: 67/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị H Đánh bạc trái phép
