Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 67/2023/HS-ST

Ngày: 17/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Công Danhông Võ Chùm.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Hân – Kiểm sát viên Trung cấp.

Vào ngày 17 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 67/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2023, Thông báo hoãn phiên tòa số 67/2023/TB-TA ngày 01/11/2023, Thông báo thời gian mở lại phiên tòa số: 69/2023/HSST-QĐ ngày 06/11/2023 đối với bị cáo:

1. Nguyễn Văn M, sinh ngày 18 tháng 10 năm 1994 tại Phú Yên. Nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn C, huyện T, tỉnh Phú Yên. Nghề nghiệp: Lái xe. Trình độ học vấn: 12/12, giới tính: Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không, quốc tịch: Việt Nam, con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1964 và bà Trần Thị Tường V, sinh năm 1963. Tiền sự, tiền án: Không. Bị bắt tạm giam từ ngày 08/02/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P. Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn M: Ông Ngô Thiên P – Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh P – Văn phòng L3, địa chỉ: D N, phường D, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

2. Nguyễn Phụng L, sinh ngày 07 tháng 12 năm 1994 tại Phú Yên. Nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn C, huyện T, tỉnh Phú Yên. Nghề nghiệp: Lái xe. Trình độ học vấn: 12/12, giới tính: Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không, quốc tịch: Việt Nam, con ông Nguyễn Hồng C, sinh năm 1963 và bà Bùi Thị T1, sinh năm 1962 (chết), có vợ tên Trương Thị T2, sinh năm 1994 và 02 con, con lớn sinh năm 2019 và con nhỏ sinh năm 2023. Tiền sự, tiền án: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

1

*Người bị hại: Võ Thị Thảo N, sinh ngày 11/9/2003, nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn C, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Thị Thanh K, sinh ngày 19/12/1983, nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn C, huyện T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
  2. Trần Công T3, sinh ngày 31/10/2003, nơi cư trú: Thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
  3. Lê Phi C1, sinh ngày 03/02/1996, nơi cư trú: Thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
  4. Trần Thị Tường V, sinh ngày 20/3/1963, nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn C, huyện T, tỉnh Phú Yên (là mẹ của bị cáo M). Có mặt.
  5. Nguyễn Hồng C, sinh ngày 05/5/1963, nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn C, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

* Người làm chứng

  1. Dương Văn T4, sinh ngày 17/3/1981, nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn C, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
  2. Nguyễn Việt C2, sinh ngày 23/6/1999, nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn C, huyện T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
  3. Lê Tấn P1 (tên gọi khác: R), sinh năm 1985, nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn C, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
  4. Phan Thành L1, sinh ngày 11/12/1967, nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn C, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
  5. Nguyễn Minh H, sinh ngày 29/5/1980, nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn C, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
  6. Nguyễn Thành L2, sinh ngày 20/11/1954, nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn C, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
  7. Đặng Tiến C3, sinh ngày 09/10/1981, nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn C, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đầu năm 2022, thông qua trang facebook, Nguyễn Văn M đặt mua 01 khẩu súng ngắn hiệu “SMITH&WESSON” và 50 viên đạn với số tiền 7.000.000 đồng, cất giấu tại nhà ở khu phố C, thị trấn C, huyện T, tỉnh Phú Yên. Khoảng 01 tuần sau, M đem ra bắn thử hết 17 viên đạn tại bãi rác L thuộc khu phố L, thị trấn C, huyện T. Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 18/01/2023, chị Võ Thị Thảo N điều khiển xe mô tô chở anh Trần Công T3 chạy ngang qua quán cà phê, có người trêu chọc. Anh T3 chửi thề, nói với M

2

“nhìn gì mày” rồi bỏ đi. Do bực tức thái độ của anh T3, khoảng 22 giờ 40 phút cùng ngày, M điều khiển xe ô tô biển số 78A-077.74, mang theo 01 con dao tự chế, 01 ống tuýp kim loại và khẩu súng trên, bên trong ổ đạn có 06 viên đạn và 02 viên đạn để trong túi quần đến nhà chị N, ở khu phố C, thị trấn C, huyện T, tỉnh Phú Yên để hỏi địa chỉ của anh T3. Thấy nhà của chị N đóng cửa, M hô la lớn tiếng nhiều lần “nhà con K đâu ra đây”, không thấy ai trả lời, M dùng dao tự chế và ống tuýp kim loại đập phá cửa cổng nhà chị N. Chị N cùng ba mẹ là ông Dương Văn T4 và bà Nguyễn Thị Thanh K mở cửa ra xem. Thấy chị N, M hô lớn nhiều lần “Mày chỉ thằng mới chở mày về hồi chiều tên gì, ở đâu”, chị N trả lời không biết, M dùng dao tự chế và ống tuýp kim loại đập cửa cổng nhà chị N vừa la lớn nói nhiều lần “mày nói tên và chỉ nhà nó cho tao, mày mà không chỉ tao không để mày yên”. Nguyễn Phụng L can ngăn, M bỏ đi. Khoảng 23 giờ cùng ngày, chị N và bà K đi đến khu vực sân nhà ông Lê Tấn P1 để hỏi thông tin về M. Thấy chị N, M cầm khẩu súng chạy đến, vừa túm tóc ghì đè đầu chị N vào cửa kính, vừa dí súng vào đầu chị N, lớn tiếng nói “mày đi chung sao không biết tên, biết nhà”. Chị N vùng vẫy bỏ chạy núp phía sau lưng bà K. M xông đến chĩa súng áp sát vào vùng mặt bà K, đầu súng hướng vào vùng đầu của chị N và lớn tiếng hăm dọa “mày không nói tao bắn mày”. Chị N hoảng sợ không dám trả lời, M liền chĩa súng lên trời bắn một phát, chị N và bà K bỏ chạy về nhà, M cầm súng đuổi theo. Khi chạy cách chị N và bà K khoảng 05m, M chĩa súng lên trời về hướng chị N, bắn tiếp phát súng thứ hai. Chị N và bà K chạy vào nhà đóng cửa cổng lại, M đứng bên ngoài cổng chĩa mũi súng lên trời hướng về phía bên trên nhà bà K bắn phát súng thứ ba. M lấy khẩu trang y tế bọc khẩu súng và 02 viên đạn dự phòng bỏ đi, gặp Nguyễn Phụng L, M ném khẩu súng cùng 02 viên đạn xuống đám đất trống, nhờ L cất giúp. L nhặt khẩu súng và 02 viên đạn cất giấu vào người. Trên đường đi về nhà, L tháo súng, lấy 03 vỏ đạn ném đi, nạp 02 viên đạn vào súng, đem về nhà cất giấu.

Khoảng 07 giờ 30 ngày 19/01/2023, Nguyễn Văn M nhờ anh Lê Phi C1 dẫn đến nhà anh T3, ở thôn P, xã A, huyện T. Đến nơi, M dùng gậy ba khúc đánh nhiều cái vào người anh T3 gây bầm đỏ tay trái, hông trái và cổ, được gia đình anh T3 can ngăn và báo cáo cơ quan Công an. Qua làm việc, M tự nguyện giao nộp 01 khẩu súng hiệu “SMITH & WESSON”, 01 khẩu súng màu đen (dạng súng hơi), 280 viên đạn các loại, 03 vỏ đạn. Ngày 06/02/2023, anh T3 tự nguyện từ chối giám định thương tích và không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

Kết luận giám định lại lần 2 số 4269/KL-KTHS ngày 01/8/2023 của V1 Bộ C4 kết luận: Khẩu súng có số hiệu “SMITH & WESSON” là súng tự chế kiểu ổ quay bắn được đạn cỡ 5,6mm, thuộc vũ khí quân dụng.

Ngày 15/4/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: Giá trị tài sản bị thiệt hại của cánh cửa cổng là 70.000đ.

Tại Bản Cáo trạng số: 72/CT-VKSPY-P1 ngày 12/10/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về tội “Đe dọa

3

giết người”, “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”, “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại Khoản 1, Điều 133; Khoản 1, Điều 304; Điểm b, Khoản 2, Điều 318 Bộ luật Hình sự và truy tố bị cáo Nguyễn Phụng L về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại Khoản 1, Điều 304 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn M, Nguyễn Phụng L vẫn khai nhận tội như đã khai tại Cơ quan điều tra, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Đe dọa giết người”, “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”, “Gây rối trật tự công cộng”; bị cáo Nguyễn Phụng L phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.

Áp dụng Khoản 1, Điều 133; Khoản 1, Điều 304; Điểm b, Khoản 2, Điều 318; Điểm b, Khoản 1, Điều 51 (Đối với tội “Đe dọa giết người”); Điểm s, Khoản 1, Khoản 2, Điều 51; Điểm g, Khoản 1, Điều 52 (đối với tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”); Điều 55 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn M.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn M 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù về tội “Đe dọa giết người”, 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”, 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải chấp hành hình phạt chung của nhiều tội là từ 04 (bốn) năm 09 (chín) tháng đến 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 08/02/2023).

Áp dụng Khoản 1, Điều 304; Điểm s, Khoản 1, Khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Phụng L, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phụng L từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

- Về hình phạt bổ sung: Không.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn M đã tự nguyện bồi thường cho bị hại Võ Thị Thảo N số tiền 5.000.000đ. Chị N, Nguyễn Thị Thanh KTrần Công T3 không yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn M phải bồi thường khoản thiệt hại nào nên đề nghị HĐXX không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự để xử lý, cụ thể:

Vật chứng đã nhập kho tại Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh P: + 01 khẩu súng ngắn bằng kim loại màu đen (dạng súng ổ xoay), báng súng bằng nhựa màu đen, hai bên nòng súng có chữ “SMITH & WESSON”, bên trái thân súng có chữ “ZP-5”, phía trên bên phải cò súng có chữ “MADE IN CHINA”. + 10 viên đạn có cùng chiều dài 24,5mm, đường kính 5,6mm, vỏ đạn màu

4

vàng, đầu đạn màu đen (còn lại sau giám định).+ 03 vỏ đạn bằng kim loại màu vàng, có chiều dài 15,5mm, đường kính 5,6mm, trong đó mặt ngoài đáy 02 vỏ đạn có chữ “S B”, 01 vỏ đạn có chữ “C”. + 01 miếng kim loại có kích thước (1,4x1,2) cm, một mặt phẳng có màu trắng xám, mặt còn lại màu đen, nơi dày nhất là 0,3cm, giao cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh P quản lý, xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với: + 01 con dao tự chế, chiều dài 89cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 44cm, mũi dao nhọn, phần rộng nhất của lưỡi dao là 55,8mm, phần cán dao làm bằng gỗ tre dài 45cm, đường kính 29mm.+ 01 ống kim loại màu trắng dài 78,7cm, đường kính 20,5mm, hai đầu có ren ngoài cùng chiều dài 12mm. + 01 cây gậy 03 khúc bằng kim loại, chiều dài nhất 62,1cm, phần tay cầm được bọc cao su màu đen, có dòng chữ “5.11 TACTIAL SERIES” được thu giữ là công cụ phạm tội và vật liên quan đến tội phạm không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với các vật chứng gồm:+ 01 khẩu súng hơi bắn đạn chì, bên trái thân súng có dòng chữ “FX TACTICAL No.544454”.+ 250 viên đạn có cùng hình dạng, kích thước, dài 8mm, đường kính nơi lớn nhất 5,5mm. + 01 công cụ có dạng lưỡi liềm, có phần cán gỗ dài 76,5cm, đường kính 2,5cm, phần lưỡi liềm được gắn gần vuông góc với cán gỗ, bằng kim loại dài 17,7cm, nơi rộng nhất 3,3cm, một cạnh sắc, mũi hơi nhọn (dạng giống lưỡi hái). + 01 thanh kiếm bằng kim loại, có vỏ bọc màu đỏ, hoa văn màu vàng, có chiều dài cả vỏ bọc 107cm, phần kiếm dài 101,5cm, phần vỏ dài 79,2cm.+ 01 con dao tự chế chiều dài 43,7cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 29,4cm, mũi dao nhọn, phần rộng nhất của lưỡi dao là 47cm, phần cán dao làm bằng gỗ dài 14,3cm, đường kính 36mm, có quấn vải và băng keo màu đen. 01 (một) bao da màu đen, kích thước (50x08)cm hiện do Cơ quan CSĐT Công an huyện T tạm giữ để xử lý hành chính theo thẩm quyền.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn M là Luật sư Ngô Thiên P trình bày: Bị cáo Nguyễn Văn M được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: Bị cáo M đã tham gia hoàn thành nghĩa vụ quân sự, bị cáo là lao động chính trong gia đình, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại và được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt thấp nhất cho bị cáo.

Các bị cáo Nguyễn Văn M, Nguyễn Phụng L nói lời sau cùng, đều xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

5

[1.1] Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không ai ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Mặc dù tại phiên tòa, người bị hại và một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt, tuy nhiên, những người này đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng tại cơ quan điều tra, đối với người bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường khoản thiệt hại nào khác. Vì vậy, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án và không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên, căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung: Lời khai nhận tội của các bị cáo Nguyễn Văn M, Nguyễn Phụng L tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng về thời gian, địa điểm phạm tội, công cụ dùng vào việc phạm tội, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 18/01/2023, tại khu phố C, thị trấn C, huyện T, tỉnh Phú Yên, Nguyễn Văn M đã có hành vi cất giấu, sử dụng khẩu súng hiệu “SMITH & WESSON”, là vũ khí quân dụng, dí súng vào đầu đe dọa giết chị Võ Thị Thảo N và chĩa súng về phía chị N bắn lên trời; dùng hung khí, vũ khí đập phá tài sản, la hét lớn tiếng gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự công cộng tại khu phố C, thị trấn C, huyện T. Nguyễn Phụng L có hành vi cất giấu khẩu súng là vũ khí quân dụng giúp Nguyễn Văn M. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về các tội “Đe dọa giết người”, “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”, “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại Khoản 1, Điều 133; Khoản 1, Điều 304; Điểm b, Khoản 2, Điều 318 Bộ luật Hình sự và truy tố bị cáo Nguyễn Phụng L về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại Khoản 1, Điều 304 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự trị an và an toàn công cộng ở địa phương. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn M còn đe dọa xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác nên đối với các bị cáo cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo. Xét tính chất, mức độ, vai trò phạm tội của từng bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

[3.1] Đối với bị cáo Nguyễn Văn M: Bị cáo đã mua, cất giấu khẩu súng quân dụng cùng 50 viên đạn sử dụng cho súng này vào đầu năm 2022.

6

Khoảng 01 tuần sau, M đem đi bắn thử hết 17 viên đạn tại bãi rác L thuộc khu phố L, thị trấn C, huyện T, sau đó đem về nhà cất giấu. Đến khoảng 22 giờ 30 phút ngày 18/01/2023, M đem theo súng, bên trong ổ đạn có 06 viên đạn, 02 viên dự phòng và đã bắn 03 viên lên trời và đe dọa giết chị Võ Thị Thảo N, bị cáo sử dụng hung khí khác đập phá tài sản, la hét lớn tiếng gây rối trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo cùng một lúc phạm nhiều tội, trong đó, phạm tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” từ 02 lần trở lên, bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định Điểm g, Khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng một hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Đồng thời, áp dụng quy định tại Điều 55 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo. Tuy nhiên, xét bị cáo có nhân thân tốt, được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: Bị cáo đã tham gia hoàn thành nghĩa vụ quân sự, là lao động chính trong gia đình; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường cho người bị hại số tiền 5.000.000đ và được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

[3.2] Đối với bị cáo Nguyễn Phụng L: Sau khi bị cáo M thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo L đã có hành vi cất giấu, tàng trữ khẩu súng quân dụng mà bị cáo M đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, xét bị cáo có nhân thân tốt, thực hiện tội phạm với vai trò thứ yếu, được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: Bị cáo là lao động chính trong gia đình đang nuôi 02 con nhỏ; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có ông, bà ngoại Bùi Chuyển, Nguyễn Thị S được tặng kỷ niệm chương chiến sĩ cách mạng bị địch bắt, tù đày để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn M đã tự nguyện bồi thường cho bị hại Võ Thị Thảo N số tiền 5.000.000đ. Chị N, Nguyễn Thị Thanh KTrần Công T3 không yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn M phải bồi thường khoản thiệt hại nào khác nên Hội đồng xét xử không xét, giải quyết.

[5] Về xử lý vật chứng: Chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa để xử lý vật chứng, cụ thể như sau:

[5.1] Vật chứng đã nhập kho tại Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh P:+ 01 khẩu súng ngắn bằng kim loại màu đen (dạng súng ổ xoay), báng súng bằng nhựa màu đen, hai bên nòng súng có chữ “SMITH & WESSON”, bên trái thân súng có chữ “ZP-5”, phía trên bên phải cò súng có chữ “MADE IN CHINA”. + 10 viên đạn có cùng chiều dài 24,5mm, đường kính 5,6mm, vỏ đạn màu vàng, đầu đạn màu đen (còn lại sau giám định).+ 03 vỏ đạn bằng kim loại màu vàng, có chiều dài 15,5mm, đường kính 5,6mm, trong đó mặt

7

ngoài đáy 02 vỏ đạn có chữ “S B”, 01 vỏ đạn có chữ “C”.+ 01 miếng kim loại có kích thước (1,4x1,2) cm, một mặt phẳng có màu trắng xám, mặt còn lại màu đen, nơi dày nhất là 0,3cm, giao cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh P quản lý, xử lý theo quy định của pháp luật.

[5.2] Đối với: + 01 con dao tự chế, chiều dài 89cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 44cm, mũi dao nhọn, phần rộng nhất của lưỡi dao là 55,8mm, phần cán dao làm bằng gỗ tre dài 45cm, đường kính 29mm.+ 01 ống kim loại màu trắng dài 78,7cm, đường kính 20,5mm, hai đầu có ren ngoài cùng chiều dài 12mm. + 01 cây gậy 03 khúc bằng kim loại, chiều dài nhất 62,1cm, phần tay cầm được bọc cao su màu đen, có dòng chữ “5.11 TACTIAL SERIES” được thu giữ là công cụ phạm tội và vật liên quan đến tội phạm không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[5.3] Đối với các vật chứng gồm:+ 01 khẩu súng hơi bắn đạn chì, bên trái thân súng có dòng chữ “FX TACTICAL No.544454”.+ 250 viên đạn có cùng hình dạng, kích thước, dài 8mm, đường kính nơi lớn nhất 5,5mm. + 01 công cụ có dạng lưỡi liềm, có phần cán gỗ dài 76,5cm, đường kính 2,5cm, phần lưỡi liềm được gắn gần vuông góc với cán gỗ, bằng kim loại dài 17,7cm, nơi rộng nhất 3,3cm, một cạnh sắc, mũi hơi nhọn (dạng giống lưỡi hái). + 01 thanh kiếm bằng kim loại, có vỏ bọc màu đỏ, hoa văn màu vàng, có chiều dài cả vỏ bọc 107cm, phần kiếm dài 101,5cm, phần vỏ dài 79,2cm.+ 01 con dao tự chế chiều dài 43,7cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 29,4cm, mũi dao nhọn, phần rộng nhất của lưỡi dao là 47cm, phần cán dao làm bằng gỗ dài 14,3cm, đường kính 36mm, có quấn vải và băng keo màu đen. 01 (một) bao da màu đen, kích thước (50x08)cm hiện do Cơ quan CSĐT Công an huyện T tạm giữ để xử lý hành chính theo thẩm quyền.

[6] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn M, Nguyễn Phụng L bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Đe dọa giết người”, “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”, “Gây rối trật tự công cộng”, bị cáo Nguyễn Phụng L phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.

1. Về hình phạt:

1.1 Áp dụng Khoản 1, Điều 133; Khoản 1, Điều 304; Điểm b, Khoản 2, Điều 318; Điểm s, Khoản 1, Khoản 2, Điều 51; áp dụng thêm Điểm b, Khoản 1, Điều 51 (Đối với tội “Đe dọa giết người”); Điểm g, Khoản 1, Điều 52 (đối với tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”); Điều 55 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn M.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn M 09 (chín) tháng tù về tội “Đe dọa giết người”, 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”, 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

8

Tổng hợp hình phạt của 03 tội, buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải chấp hành hình phạt chung là 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 08/02/2023).

1.2 Áp dụng Khoản 1, Điều 304; Điểm s, Khoản 1, Khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Phụng L.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phụng L 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

2.1 Vật chứng đã nhập kho tại Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh P:+ 01 khẩu súng ngắn bằng kim loại màu đen (dạng súng ổ xoay), báng súng bằng nhựa màu đen, hai bên nòng súng có chữ “SMITH & WESSON”, bên trái thân súng có chữ “ZP-5”, phía trên bên phải cò súng có chữ “MADE IN CHINA”. + 10 viên đạn có cùng chiều dài 24,5mm, đường kính 5,6mm, vỏ đạn màu vàng, đầu đạn màu đen (còn lại sau giám định).+ 03 vỏ đạn bằng kim loại màu vàng, có chiều dài 15,5mm, đường kính 5,6mm, trong đó mặt ngoài đáy 02 vỏ đạn có chữ “S B”, 01 vỏ đạn có chữ “C”.+ 01 miêng kim loại có kích thước (1,4x1,2) cm, một mặt phẳng có màu trắng xám, mặt còn lại màu đen, nơi dày nhất là 0,3cm, giao Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh P quản lý, xử lý theo quy định của pháp luật.

2.2 Tịch thu tiêu hủy đối với: + 01 con dao tự chế, chiều dài 89cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 44cm, mũi dao nhọn, phần rộng nhất của lưỡi dao là 55,8mm, phần cán dao làm bằng gỗ tre dài 45cm, đường kính 29mm.+ 01 ống kim loại màu trắng dài 78,7cm, đường kính 20,5mm, hai đầu có ren ngoài cùng chiều dài 12mm. + 01 cây gậy 03 khúc bằng kim loại, chiều dài nhất 62,1cm, phần tay cầm được bọc cao su màu đen, có dòng chữ “5.11 TACTIAL SERIES” (Tất cả các vật chứng có đặc điểm mô tả như Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 16 tháng 10 năm 2023 giữa cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh P với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên).

2.3 Đối với các vật chứng gồm: +01 khẩu súng hơi bắn đạn chì, bên trái thân súng có dòng chữ “FX TACTICAL No.544454”.+ 250 viên đạn có cùng hình dạng, kích thước, dài 8mm, đường kính nơi lớn nhất 5,5mm. + 01 công cụ có dạng lưỡi liềm, có phần cán gỗ dài 76,5cm, đường kính 2,5cm, phần lưỡi liềm được gắn gần vuông góc với cán gỗ, bằng kim loại dài 17,7cm, nơi rộng nhất 3,3cm, một cạnh sắc, mũi hơi nhọn (dạng giống lưỡi hái). + 01 thanh kiếm bằng kim loại, có vỏ bọc màu đỏ, hoa văn màu vàng, có chiều dài cả vỏ bọc 107cm, phần kiếm dài 101,5cm, phần vỏ dài 79,2cm.+ 01 con dao tự chế chiều dài 43,7cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 29,4cm, mũi dao nhọn, phần rộng nhất của lưỡi dao là 47cm, phần cán dao làm bằng gỗ dài 14,3cm, đường kính 36mm, có quấn vải và băng keo màu đen. 01 (một) bao da màu đen, kích thước (50x08)cm hiện do Cơ quan CSĐT Công an huyện T tạm giữ để xử lý hành chính theo thẩm quyền.

9

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Các bị cáo Nguyễn Văn M, Nguyễn Phụng L, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết công khai hoặc tống đạt hợp lệ.

THÀNH VIÊN HĐXX

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Công Danh

Võ Chùm

Nguyễn Việt Hùng

10

Nơi nhận:

  • - TANDTC;
  • - TAND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên (2);
  • - CQ ANĐT CA. tỉnh Phú Yên;
  • - Phòng HSNV Công tỉnh Phú Yên;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Phú Yên (03 bản – giao B/c Minh 01 bản);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên;
  • - Cục THADS tỉnh Phú Yên;
  • - CQTT, NTGTT;
  • - P. KTNV THAHS;
  • - Lưu HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Việt Hùng

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2023/HS-ST ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về hình sự sơ thẩm (đe dọa giết người; tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng; gây rối trật tự công cộng)

  • Số bản án: 67/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Đe dọa giết người; Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng; Gây rối trật tự công cộng)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án - HSST - NGUYỄN VĂN M và đồng phạm - đe dọa giết người - CT HÙNG
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger