|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: /2023/HS-ST Ngày: 17/11/2023. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Hải Đăng.
- Ông Lục Viết Sang.
Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bộ - Kiểm sát viên.
Ngày 17/11/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 58/2023/HSST ngày 11 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2023/QĐXXST-HS ngày 03/11/2023, đối với các bị cáo:
1. Họ tên: Nguyễn Xuân C, sinh năm 1991;
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Họ và tên bố: Nguyễn Xuân Đ (đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị M, sinh năm 1964; Vợ, con: Chưa có; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai;
- - Tiền sự: Không.
- - Tiền án: Ngày 25/9/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 03 năm tù về tội “Vi phạm quy định về điểu khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Đã chấp hành xong hình phạt tù và án phí hình sự, dân sự sơ thẩm nhưng chưa chấp hành xong trách nhiệm dân sự về việc bồi thường số tiền 97.505.693 đồng.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày từ 08/8/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh B.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Họ tên: N, sinh năm 1987;
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Tự do; Họ và tên bố: Ninh Đắc T (đã chết); Họ và tên mẹ: Dương Thị T1- sinh năm 1959; Vợ, con: Chưa có; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai;
- - Tiền án: Ngày 23/6/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 26/12/2022.
- - Tiền sự:
- + Ngày 11/11/2021, bị Công an huyện Y, tỉnh Bắc Giang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, mức tiền phạt: 1.500.000 đồng (chưa thi hành);
- + Ngày 26/6/2021, bị Chủ tịch UBND xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do sử dụng trái phép chất ma túy. Đã chấp hành xong ngày 26/9/2021.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/8/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh B.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại:
- Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1991 (có đơn xin vắng mặt).
- Anh Dương Ngọc H, sinh năm 1992 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Vũ Văn T2, sinh năm 1975 (có mặt).
- Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1964 (có mặt).
- Anh Nguyễn Xuân Đ1, sinh năm 1986 (có mặt).
Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 28/7/2023, H1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 98M1- 295.02 chở C ngồi sau đi qua cổng nhà trọ của chị Nguyễn Thị Q- sinh năm 1991, ở thôn P, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang thì C quan sát thấy cổng nhà chị Q khóa cửa phía ngoài, không có ai ở nhà. Do lúc này H1 đã điều khiển xe mô tô chở C đi qua nhà chị Q nên C nói với H1 là “Anh dừng xe lại đợi em ở đây một lúc, em thấy nhà này khóa cổng, để em vào xem có gì không". H1 hiểu ý C nói là vào nhà chị Q xem có tài sản gì thì trộm cắp nên H1 dừng xe lại. C xuống xe đi bộ quay lại phía nhà chị Q, còn H1 đỗ xe mô tô cách vị trí nhà chị Q khoảng 30 mét, canh gác, cảnh giới cho C vào trộm cắp tài sản. Khi đi đến khu vực nhà trọ của chị Q, C trèo lên tường bao cay để vào trong khuân viên, đi bộ qua chuồng lợn bỏ hoang thì C nhìn thấy và nhặt 01 thanh kim loại dài khoảng 30cm, đường kính khoảng 1,5cm đến 02cm ở cửa chuồng lợn, C cầm theo mục đích dùng làm công cụ phá khóa cửa nhà chị Q. C đi đến trước cửa nhà chị Q thì nhìn thấy cửa nhà được chốt ngang phía ngoài bằng một chốt kim loại màu trắng, đầu chốt được khóa bằng một khóa nhãn hiệu Việt Tiệp thân màu vàng, chốt bằng kim loại màu trắng hình chữ U. C dùng tay cầm một đầu thanh kim loại, chọc đầu còn lại vào chốt cửa để phá khóa thì phá được khóa rồi C mở cửa đi vào trong nhà nhìn thấy 01 ti vi nhãn hiệu TV LED SMART 40 inch Coex 40FH6000X được kê trên bàn ở góc bên phải hướng từ cửa đi vào, giắc cắm điện của ti vi đã được rút điện ra từ trước. C dùng hai tay bê chiếc ti vi trên ra khỏi nhà chị Q qua lối vào ban đầu. Khi đi đến chuồng lợn bỏ hoang C nhặt được 01 bao tơ dứa và đút ti vi trộm cắp được vào trong bao, rồi bê bao tơ dứa bên trong có ti vi đặt lên mặt tường bao và gọi H1 quay lại đón. H1 điều khiển xe mô tô đi đến chỗ C, dựng xe đi đến sát tường bao dùng hai tay đỡ bao tơ dứa bên trong có ti vi mang ra khỏi khuân viên nhà chị Q và hỏi C "Cái gì trong bao đây", C trả lời "Ti vi em vừa lấy được ở nhà này", nghe C nói vậy H1 biết C vừa trộm cắp được ti vi nên mang ti vi ra xe mô tô. Còn C trèo qua tường bao ra ngoài, lên xe mô tô ngồi phía sau, giữ chiếc ti vi vừa trộm cắp được để H1 chở đi tìm chỗ tiêu thụ. Khoảng 17 giờ cùng ngày 28/7/2023, H1 và C đi đến hàng thu mua phế liệu của anh Vũ Văn T2- sinh năm 1975, trú tại thôn C, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang thì C mang ti vi vào bán cho anh T2 nhưng anh T2 không mua. C nói với anh T2 "T3 cho em gửi ở đây, anh cho em vay năm trăm". Anh T2 nói tối hoặc mai đến trả tiền rồi lấy ti vi luôn thì được C đồng ý. Sau đó, H1 chở C đi đến đoạn đường gần nghĩa trang B thuộc thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang thì gặp người đàn ông khoảng 40 tuổi không biết tên, tuổi, địa chỉ có bán ma túy nên C dùng số tiền 300.000 đồng vay của anh T2 để mua ma túy loại Heroine của người đàn ông này. Sau khi mua được ma túy C cùng H1 sử dụng hết số ma túy này ở khu vực nghĩa trang B thuộc thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Số tiền còn lại C và H1 đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Đến buổi tối cùng ngày, C và H1 đi chơi tại xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang thì gặp Công an xã T, huyện Y đi tuần tra, tiến hành dừng xe mô tô kiểm tra thì H1 bỏ chạy, còn C bị Công an xã T đưa về trụ sở để làm việc, tại đây C đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp chiếc ti vi tại nhà chị Q cùng với H1.
Ngày 29/7/2023, chị Q gửi đơn trình báo đến Công an xã T, huyện Y về việc bị kẻ gian trộm cắp 01 chiếc ti vi của gia đình ở thôn P, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
Ngày 29/7/2023, Công an xã T chuyển hồ sơ đến Cơ quan điều tra Công an huyện Y để điều tra theo thẩm quyền.
Ngày 29/7/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ: 01 đoạn thanh kim loại là chốt cửa có kích thước dài 14 cm, một đầu bằng, một đầu gãy nham nhở, đường kính 1,2 cm.
Ngày 29/7/2023, anh Vũ Văn T2 giao nộp cho Cơ quan điều tra Công an huyện Y: 01 ti vi màu đen nhãn hiệu COEX 40 inch đã cũ, qua sử dụng.
Ngày 01/8/2023, Nguyễn Xuân C giao nộp cho Cơ quan cảnh sát điều tra: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 98M1- 295.02.
Ngày 02/8/2023, Ninh Việt H2 đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của gia đình chị Nguyễn Thị Q vào ngày 28/7/2023 cùng với Nguyễn Xuân C. Quá trình đầu thú đã tạm giữ của H2: 01 điện thoại di động bàn phím mặt sau có chữ NOKIA điện thoại cũ đã qua sử dụng bên trong lắp 01 thẻ sim Viettel.
Tại Kết luận định giá tài sản số 39/KL-HĐĐGTS ngày 02/8/2023 và số 50/KL-HĐĐGTS ngày 09/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y kết luận: Giá trị tài sản yêu cầu định giá trên tại thời điểm định giá ngày 28/7/2023 là: 3.053.000 đồng (Ba triệu không trăm năm ba nghìn đồng), cụ thể:
- + 01 (một) chiếc ti vi nhãn hiệu TV LED SMART 40 inch Coex 40FH6000X có giá trị 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng);
- + 01 (một) đoạn thanh kim loại dài 14cm đường kính 1.2cm có giá trị 3.000 đồng (Ba nghìn đồng);
- + 01 (một) chiếc khóa Việt Tiệp có giá trị 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng).
Cơ quan điều tra đã tiến hành cho C, H2 thực nghiệm lại hành vi trộm cắp ti vi nhà chị Q vào ngày 28/7/2023. Kết quả thực nghiệm phù hợp với lời khai của C, H2 và các tài liệu Cơ quan điều tra đã thu thập được.
Tại Cơ quan điều tra, C và H2 đã thành khẩn khai nhận về toàn bộ hành vi trộm cắp của mình.
Cáo trạng số 58/CT-VKS-YT ngày 10/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế truy tố bị cáo Nguyễn Xuân C và bị cáo Ninh Việt H2 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, sau phần xét hỏi tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế thực hành quyền công tố đã luận tội đối với các bị cáo, phân tích, đánh giá tính chất nguy hiểm của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đồng thời giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 38, Điều 58, Điều 17 của Bộ luật Hình xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân C từ 10 đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 08/8/2023.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 38, Điều 58, Điều 17 của Bộ luật Hình xử phạt bị cáo Ninh Việt H2 từ 08 đến 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 02/8/2023.
Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo C và H2.
* Về trách nhiệm dân sự: Không ai có yêu cầu bồi thường vấn đề gì nên không đặt ra xem xét.
* Về vật chứng: Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Các điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe mô tô biển kiểm soát 98M1- 295.02, mang tên chủ sở hữu Nguyễn Xuân C.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 thanh kim loại dài 14 cm, đường kính 1,2 cm, một đầu bằng, một đầu gãy nham nhở.
- - Trả lại Ninh Việt H2 01 điện thoại di động NOKIA điện thoại cũ đã qua sử dụng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
* Về án phí: Bị cáo Ninh Việt H2 phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm, miễn tiền án phí cho bị cáo Nguyễn Xuân C.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị M đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình, trả lại cho gia đình bà chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98 M1-295.02.
Đại diện Viện kiểm sát đối đáp: Tại phiên tòa, bà M và anh Đ1 cùng thừa nhận cùng góp tiền mua chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98 M1-295.02 và đồng ý giao xe cho bị cáo C đứng tên chủ sở hữu, mục đích để C đi làm công nhân. Như vậy, có đủ căn cứ khẳng định bà M và anh Đ1 đã giao toàn quyền sở hữu, sử dụng và định đoạt chiếc xe trên cho bị cáo C. Bị cáo dùng chiếc xe này làm phương tiện thực hiện việc trộm cắp tài sản nên cần tịch thu chiếc xe trên sung quỹ Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bà M không có ý kiến tranh luận gì thêm.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai, mong Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan... không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị hại là chị Nguyễn Thị Q, anh Dương Ngọc H vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt những người trên.
[2] Về tội danh:
Lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đều thừa nhận: Khoảng 12 giờ ngày 28/7/2023, tại nhà trọ của chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1991 ở thôn P, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Nguyễn Xuân C và Ninh Việt H2 đã có hành vi cùng nhau trộm cắp 01 (một) chiếc ti vi nhãn hiệu TV LED SMART 40 inch Coex 40FH6000X trị giá 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) của gia đình nhà chị Nguyễn Thị Quỳnh .
Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Hành vi của các bị cáo là lén lút trộm cắp tài sản của người khác, giá trị tài sản các bị cáo đã trộm cắp là 3.000.000 đồng. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp nhằm mục đích tiêu xài cá nhân đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Như vậy, Cáo trạng số 58/CT-VKS-YT ngày 10/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế truy tố đối với bị cáo Nguyễn Xuân C và Ninh Việt H2 là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Trong vụ án: Anh Vũ Văn T2 là người được C đặt lại chiếc ti vi mà C và H2 trộm cắp được để vay số tiền 500.000 đồng nhưng không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với anh T2 là đúng quy định của pháp luật.
Ngày 28/7/2023, C và H2 có hành vi mua ma túy để sử dụng trái phép ở thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Ngày 06/9/2023, Cơ quan điều tra đã có Công văn trao đổi thông tin trên đến Công an huyện T để tiến hành xác minh, xử lý theo thẩm quyền là đúng quy định của pháp luật.
* Về vai trò của các bị cáo: Trong vụ án, các bị cáo không bàn bạc, chuẩn bị từ trước, không có sự câu kết chặt chẽ nên đây thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Bị cáo C là người khởi xướng việc trộm cắp tài sản và cũng trực tiếp, tích cực thực hiện hành vi trộm cắp tài sản hơn nên bị cáo có vai trò đầu. Bị cáo H2 có vai trò sau.
* Về hình phạt bổ sung bằng tiền: Bị cáo Ninh Việt H2 là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng gì; bị cáo Nguyễn Xuân C thuộc đối tượng hộ cận nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
* Về mức hình phạt: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân C từ 10 đến 12 tháng tù, bị cáo Ninh Việt H2 từ 08 đến 10 tháng tù, Hội đồng xét xử nhận thấy: Các bị cáo phạm tội với tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo C có 01 tình tiết tăng nặng và 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo H2 có 01 tình tiết tăng nặng và 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giá trị tài sản các bị cáo trộm cắp là 3.000.000 đồng nên mức hình phạt trên là cao so với hành vi phạm tội của các bị cáo.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi:
Tội phạm do các bị cáo thực hiện đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật Hình sự bảo vệ, hành vi của các bị cáo là liều lĩnh, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo đều là người có nhân thân xấu, vì vậy, cần xử phạt các bị cáo hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Xuân C, Ninh Việt H2 phải chịu tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo Ninh Việt H2 đầu thú nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị Q, anh Dương Ngọc H, anh Vũ Văn T2 đều không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[7] Về vật chứng:
- - Đối với 01 (một) chiếc ti vi nhãn hiệu TV LED SMART 40 inch Coex 40FH6000X là tài sản thuộc quyền sỡ hữu hợp pháp của chị Q. Ngày 28/8/2023, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Q là đúng quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Đối với xe mô tô biển kiểm soát 98M1-295.02, quá trình điều tra bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1964 và anh Nguyễn Xuân Đ1, sinh năm 1986, đều trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang (là mẹ đẻ và anh trai ruột của C) khai góp tiền vào mua mới từ năm 2022 để C làm phương tiện đi làm công nhân nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh; mặt khác chiếc xe đăng ký tên chủ sử dụng là Nguyễn Xuân C, C sử dụng chiếc xe này để làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Đối với 01 thanh kim loại dài 14 cm, đường kính 1,2 cm là chốt khóa cửa của nhà chị Q nhưng chị Q từ chối nhận lại, đây là vật chứng không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật hình sự.
- - Đối với 01 điện thoại di động bàn phím mặt sau có chữ NOKIA điện thoại cũ đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 thẻ sim V là tài sản của H2 không sử dụng vào việc phạm tội, cần trả lại cho H2 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Đối với 01 bao tơ dứa màu xanh chị Q không yêu cầu định giá tài sản do không còn giá trị. Anh T2 đã vứt bao tơ dứa trên vào đống vỏ bao mà gia đình anh T2 đã thu mua về, sau đó đã bán đống vỏ bao nhưng không nhớ là bán cho ai, không thu hồi được chiếc bao này nên không có căn cứ xử lý.
- - Đối với 01 khóa nhãn hiệu Việt Tiệp và 01 thanh kim loại (C nhặt ở chuồng lợn dùng làm công cụ phá chốt khóa cửa), sau khi phá khóa xong C đã vứt khóa và thanh kim loại này đi nhưng không nhớ ví trị, địa điểm đã vứt, cơ quan điều tra không truy tìm được nên không có căn cứ xử lý.
[8]. Về án phí: Bị cáo Ninh Việt H2 phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14; Bị cáo Nguyễn Xuân C thuộc đối tượng hộ cận nghèo nên được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14.
QUYẾT ĐỊNH
1. Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:
Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân C 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giam 08/8/2023.
Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Ninh Việt H2 07 (Bẩy) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/8/2023.
Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo C và bị cáo H2.
2. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự,
Căn cứ quy định tại điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Wave, biển kiểm soát 98M1-295.02, số khung: RLHJA392XNY403984; số máy: JA39E2818109 mang tên chủ sử dụng Nguyễn Xuân C, xe cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy, bên trong cốp xe không có đồ vật, tài sản gì.
- - Tịch tiêu hủy 01 (một) phong bì thư niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia và dấu của Phòng K Công an tỉnh B, bên trong có 01 (một) đoạn thanh kim loại dài 14cm, đường kính 1,2cm, một đầu bằng, một đầu gãy nham nhở.
- - Trả lại N (một) phong bì thư của Công an huyện Y đóng kín niêm phong, có chữ ký của các thành phần tham gia và dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, ký hiệu là "Điện thoại", bên trong có 01 (một) điện thoại di động bàn phím, mặt sau có chữ Nokia, số IMEI: 354896088805562, bên trong lắp 01 thẻ sim mạng Viettel, trên vỏ sim có dãy số: 8984048000027533458, điện thoại cũ đã qua sử dụng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
4. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Ninh Việt H2 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm; Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Xuân C.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán sơ cấp - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Trang |
Bản án số 58/2023/HS-ST ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 58/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Xuân C và Ninh Việt H phạm tội trộm cắp tài sản
