Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN AN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2024/HS-ST

Ngày 17 - 7 - 2024

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tuấn Phan .

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Hải.

Bà Nguyễn Thị Thuận.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trần Vy–Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Phúc Thịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 74/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2024/QĐXXST-HS, ngày 02 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

- Nguyễn Văn B, sinh năm 1989 tại Long An.

Nơi cư trú: ấp D, xã M, huyện T, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị Ngọc H; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án:

  • - Ngày 21/12/2010, bị Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 112/2010/HSST ngày 21/12/2010. Chấp hành xong hình phạt ngày 09/9/2011
  • Ngày 20/12/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số: 52/2012/HSST ngày 20/12/2012. Chấp hành xong hình phạt ngày 20/01/2014.
  • Ngày 02/4/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 01 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo bản án số 20/2025/HSST ngày 02/4/2015.
  • - Ngày 05/8/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xử phạt ba năm sáu tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 71/2019/HSST ngày 05/8/2019.

Bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an thành phố T, tỉnh Long An từ ngày 03/5/2024 đến nay (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Bị hại:

  • + Chị Phạm Thị Yến N, sinh năm 1997; Địa chỉ: 4, khu phố B, Phường C, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt);
  • + Anh Dương Anh D, sinh năm 1989; Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An (vắng mặt);
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1969; Địa chỉ: ấp D, xã M, huyện T, tỉnh Long An (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 15/02/2023, bị hại Dương Anh D có quen biết và uống cà phê cùng bị cáo Nguyễn Văn B ở gần nhà máy L1 thuộc huyện T, tỉnh Long An. Đến ngày 17/02/2023, bị hại D và bị cáo B lại gặp uống cà phê tại gần nhà máy L1, bị cáo B có rủ bị hại D đi nhậu thì bị hại D đồng ý. Sau đó, bị hại D điều khiển xe mô tô loại Wave Alpha màu đỏ biển số: 52M9 – 4088 chở bị cáo B đi đến quán K (M), tại số H N, phường E, thành phố T, tỉnh Long An cùng với người bạn mới quen tên L (không rõ nhân thân). Lúc này, bị hại Phạm Thị Yến N là tiếp viên phục vụ phòng Karaoke của bị hại D và bị cáo Bên. Trong lúc đang hát Karaoke, bị cáo B có kêu bị hại N ra ngoài gọi đồ ăn, bị hại N đặt chiếc điện thoại Iphone 12 pro max 256GB màu xanh trên ghế salon gần chỗ bị cáo B rồi đi ra ngoài. Lúc này thấy điện thoại của bị hại N không có người trông coi, bị cáo B nảy sinh ý định lấy trộm, bị cáo Bên lén lút lấy điện thoại bỏ vào túi quần rồi đi ra ngoài. Khi đến khu vực đậu xe của quán, bị cáo B phát hiện thấy xe mô tô loại Wave màu đỏ biển số: 52M9 – 4088 của bị hại D đang dựng, có cắm sẵn chìa khóa trên xe, không có người trông coi nên bị cáo B nảy sinh ý định lấy trộm. Bị cáo Bên lén lút đến ngồi lên xe, mở chìa khóa, đề máy xe chạy đi. Sau đó, bị cáo B cầm điện thoại của bị hại N tại một cửa hàng không rõ tên và địa chỉ ở gần bến xe miền T, thành phố Hồ Chí Minh với giá 800.000đ, còn xe mô tô của bị hại D, bị cáo Bên cất giấu tại bãi giữ xe ở bến xe miền T. Khoảng một tuần sau, bị hại N định vị được điện thoại Iphone 12 pro max 256GB màu xanh của mình nên đến cửa hàng điện thoại gần bến xe miền T chuộc ra với giá 3.500.000đ. Còn bị cáo B khi nghe tin Công an đến nhà mời làm việc thì trốn tránh và liên hệ về gia đình để bồi thường số tiền 3.500.000đ cho bị hại N và trả lại chiếc xe mô tô loại Wave màu đỏ biển số: 52M9 – 4088 cho bị hại D. Ngày 25/3/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đã mời làm việc bị cáo Bên. Tại Cơ quan Công an, bị cáo B đã khai nhận toàn bộ hành vi nêu trên.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 11/KL-HĐĐG ngày 22/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: giá trị 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha màu đỏ, biển số 52M9 – 4088 đã qua sử dụng tại thời điểm định giá có giá trị: 7.000.000đ; 01 điện thoại Iphone 12 promax đã qua sử dụng tại thời điểm định giá có giá trị: 19.000.000đ.

Cáo trạng số 73/CT-VKSTA ngày 25/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An truy tố bị cáo Nguyễn Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn B khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu; bị cáo không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại về kết luận định giá, đồng thời không có khiếu nại đối với cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiền hành tố tụng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”, về hình phạt chính:

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B từ 03 năm đến 04 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn B đã tác động để gia đình bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của bị hại và các bị hại không yêu cầu gì khác.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết mình sai và hối hận với hành vi phạm tội của mình đề nghị hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện hợp pháp.

[2] Bị hại chị Phạm Thị Yến N, anh Dương Anh D vắng mặt tại phiên tòa nhưng xét thấy trong giai đoạn điều tra đã thể hiện đầy đủ lời khai và ý kiến của các đương sự này nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự này theo quy định tại điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An; phù hợp lời khai của bị hại, người liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở để kết luận: Do cần tiền tiêu sài cá nhân nên khoảng 20 giờ ngày 23/8/2023 tại quán Karaoke T1 số 84/2a N, Phường E, thành phố T, Long An bị cáo Nguyễn Văn B đã lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt 01 điện thoại Iphone 12 promax có giá trị 19.000.000đ của chị Phạm Thị Yến N và 01 xe môtô nhãn hiệu Wave Alpha màu đỏ, biển số 52M9 – 4088 có giá trị 7.000.000đ của anh Dương Anh D. Do đó, đủ cơ sở để kết luận hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn B đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Về tính tiết định khung hình phạt: tại Bản số 71/2019/HSST ngày 05/8/2019 của TAND huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang đã xử phạt bị cáo 03 năm 06 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung là tái phạm nguy hiểm, chưa được xóa án tích. Do đó lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An truy tố bị cáo về hành vi theo tội danh nêu trên là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.

[5] Xét, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì tham lam, thích hưởng lợi bất chính trên thành quả lao động của người khác nên đã lợi dụng sự sơ hở bất cẩn của người khác để chiếm đoạt tài sản, điều này thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Bị cáo có 04 tiền án về tội “trộm cắp tài sản”, tuy nhiên bị cáo không lấy đó là bài học mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, vì vậy phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc mới tương xứng với hành vi phạm tội, cách ly khỏi xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

[6] Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có tác động gia đình bồi thường cho bị hại đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

[8] Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 02 năm đến 03 năm tù, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo mức án mà Kiểm sát viên đề nghị chưa tương xứng với hành vi và nhân thân của bị cáo nên cần xét xử bị cáo mức án cao hơn đề nghị của Kiểm sát viên.

[9] Trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn B đã tác động để gia đình bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của bên bị hại và các bị hại không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đề cập.

[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 03/5/2024.

  2. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa. Buộc bị cáo Nguyễn Văn B phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày tính từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi Nhận :

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND Tp Tân An;
  • - CA Tp Tân An;
  • - Chi cục THA Tp Tân An;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Long An;
  • - Bị cáo; Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ; VP./.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Tuấn Phan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 67/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn B phạm tội "trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger