|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 67/2024/HS-ST Ngày: 17 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Trang
Các hội thẩm nhân dân:+ Bà Nguyễn Thị Bích Thủy
+ Bà Lê Ngọc Lan
Thư ký phiên tòa:Ông Nguyễn Quang Trực- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:Bà Cao Thị Yến- Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh xét xử sơ thẩm công khaivụ án hình sự thụ lý số 53/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 3năm2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2024/QĐXXST-HS ngày 02tháng 5năm 2023, đối với bị cáo:
Lưu Trung H, (tên gọi khác: không) sinh năm 1995 tại: Đồng Nai;Nơi cư trú: Khu E, ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Chung C, sinh năm 1974 và bà Lê Thị Thanh T, sinh năm 1974; gia đình bị cáo có 02 người, anh lớn nhất sinh năm 1992, bị cáo là em nhỏ nhất trong gia đình; vợ, con: chưa có.
Tiền án: Ngày 29/9/2016, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 07 năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tại Bản án số 278/2016/HSPT. Bị cáo chấp hành xong bản án vào ngày 27/4/2021.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 20/3/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tại bản án số 24/2013/HSST. Bị cáo chấp hành xong bản án vào ngày 24/4/2014.
Bị cáo Lưu Trung H bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 06/02/2024. Đến ngày 04/3/2024, được áp dụng biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
***
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ 40 phút ngày 24/10/2023, tại đường H, thuộc phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, Tổ tuần tra kiểm soát giao thông của Công an thành phố L phát hiện Lưu Trung H đang điều khiển xe mô tô, biển số 60H5-383.05, không đội mũ bảo hiểm nên yêu cầu dừng lại kiểm tra. Quá trình làm việc, H xuất trình 01 Căn cước công dân, 01 Giấy phép lái xe hạng A1 số [...] đề ngày 15/8/2022, do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đ cấp, mang tên Lưu Trung H và 01 Giấy phép đăng ký xe mô tô biển số 60H5-383.05. Qua kiểm tra, nghi ngờ giấy phép lái xe A1 trên được làm giả, Tổ tuần tra chuyển hồ sơ sang Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L để xác minh, làm rõ.
Quá trình làm việc, Lưu Trung H khai nhận: Vào khoảng tháng 4 năm 2022, H sử dụng mạng xã hội Facebook với tên “Hậu Lưu”, liên hệ với một tài khoản tên “Tuấn N”, cung cấp thông tin, hình ảnh cá nhân để đặt làm giả một giấy phép lái xe mô tô hạng A1, với giá 2.500.000 đồng. Sau khoảng một tháng thì H nhận được giấy phép lái xe giả và mất liên lạc với tài khoản “Tuấn N”.
Tại bản kết luận giám định số 2478/KL-KTHS ngày 12/12/2023, Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận: Giấy phép lái xe hạng A1, số: [...], mang họ tên: Lưu Trung H, đề ngày 15/8/2022, là giả.
Về thu giữ và xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L thu giữ 01 giấy phép lái xe hạng A1, số G, mang họ tên Lưu Trung H, hiện đang lưu giữ tại hồ sơ vụ án để phục vụ công tác xét xử.
Tại bản Cáo trạng số 47/CT-VKS-LK ngày 14/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh truy tố bị cáo Lưu Trung H1 tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo: Lưu Trung H2 tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52; điều 38 BLHS cùng nhân thân bị cáo, đề nghị xử phạt bị cáo 10 tháng đến 14 tháng tù.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử quyết định về xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm.
* Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáobiết mình đã vi phạm pháp luật và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa,bị cáokhông có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng đã mô tả, lời khai của bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng, vật chứng thu hồi được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 02 giờ 40 phút ngày 24/10/2023, trên đường H, thuộc phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, Lưu Trung H sử dụng giấy phép lái xe hạng A1, số: [...], mang họ tên: Lưu Trung H giả, điều khiển xe mô tô biển số 60H5-383.05, thì bị Tổ tuần tra kiểm soát giao thông của Công an thành phố L phát hiện. Tại bản kết luận giám định số 2478/KL-KTHS ngày 12/12/2023, Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận: Giấy phép lái xe hạng A1, số: [...], mang họ tên: Lưu Trung H, đề ngày 15/8/2022, là giả.
Do đó, hành vi của bị cáo Lưu Trung H3 cấu thành tội tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Đánh giá tính chất, mức độ, hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính, hoạt động bình thường, đúng đắn của các cơ quan nhà nước, xâm phạm lợi ích nhà nước. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Nên bị cáo phải chịu mức hình phạt tương ứng với hành vi và hậu quả gây ra.
[4] Về khung hình phạt của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết định khung tăng nặng nên chỉ xét xử bị cáo tại khoản 1 Điểu 341 Bộ luật Hình sự.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này là tái phạm. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận.Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểms khoản 1, khoản 2Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
Về vật chứng vụ án: Đối với 01 giấy phép lái xe hạng A1, số G, mang họ tên Lưu Trung H, hiện đang lưu giữ tại hồ sơ vụ án để phục vụ công tác xét xử.
[7] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo cũng như đề nghị mức hình phạt là phù hợp với nhận định trên, nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 341Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[1]. Tuyên bố bị cáoLưu Trung H2 tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức".
- Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểmskhoản 1, khoản 2 Điều 51;điểm h khoản 1Điều 52; Điều 38Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Lưu Trung H4 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/02/2024 đến ngày 04/3/2024.
[3]Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốchội.
Buộcbị cáo Lưu Trung H5 nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt bản án hợp lệ.
Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Vũ Thị Thu Trang |
Bản án số 67/2024/HS-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI về sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 67/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
