Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 67/2024/HSST

Ngày: 16/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ma Văn Nhất.

Các hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Võ Văn Tốt

2/ Ông Nguyễn Văn Quản

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thống – Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12,Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Cao Hoàng Minh– Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Tòa án nhân dân Quận 12 mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 98/2024/HSST ngày 28 tháng 3 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 331/2024/HSST-QĐ ngày 19/3/2024 đối với bị cáo:

Bùi Thanh T; Sinh năm 1983; Tại tỉnh Quảng Ngãi; Giới tính: Nam; Nơi ĐKNKTT: KDC số 4, thôn Phước L, xã Đức P, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi; Chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Không; Họ tên cha: Bùi Tấn C; Họ tên mẹ: Phạm Thị M; Hoàn cảnh gia đình: Vợ: Bùi Thị Kim L, Có 01 người con sinh năm 2020; Tiền án - tiền sự: Không.

Nhân thân:

  1. Tại bản án số 101/HSPT ngày 18/9/2006 Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa tuyên phạt Bùi Thanh T 01 năm 03 tháng tù giam về tội "Trộm cắp tài sản". Đã chấp hành xong án phạt tù nhưng chưa nộp án phí. Ngày 02/02/2024, Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa có Công văn số 223/CCTHADS trả lời kết quả xác minh: "Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang chưa thụ lý bản án số 101/HSPT ngày 18/9/2006 của TAND tỉnh Khánh Hòa đối với đương sự Bùi Thanh T"
  2. Tại bản án số 294/HSST ngày 17/12/2010 Tòa án nhân dân quận Tân Bình tuyên phạt Bùi Thanh T 03 năm tù giam về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản". (Đã chấp hành xong và được xóa án tích)
  3. Tại bản án số 100/HSST ngày 04/5/2011 Tòa án nhân dân quận Tân Phú tuyên phạt Bùi Thanh T 05 năm tù giam về tội " Lừa đảo chiếm đoạt tài sản". (Đã chấp hành xong và được xóa án tích)
  4. Tại bản án số 81/2023/HS-ST ngày 15/8/2023 Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long tuyên phạt Bùi Thanh T 09 tháng tù giam về tội " Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" .

Hiện đang chấp hành án phạt tù từ ngày 10/10/2023 theo Bản án số 81/2023/HS-ST ngày 15/8/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long - (có mặt).

*Người bị hại:

  • 1/ Chị Nguyễn Thị Bé L, sinh năm 1995
    HKTT: Áp B, xã Phong Thạnh T, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu
    Trú tại: A, Hiệp Thành 45, phường Hiệp Thành, Quận 12, TP. Hồ Chí Minh
    (Vắng mặt).
  • 2/ Chị Huỳnh Thị Chúc L, sinh năm 1996
    HKTT: A, tổ 6, ấp Long An B, xã Phú Thọ, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp
    Tạm trú: A, tổ 21, khu phố 3, phường Hiệp Thành, Quận 12, TP. HCM
    Trú tại: A, HT 17, phường Hiệp Thành, Quận 12, TP. Hồ Chí Minh
    (Vắng mặt).
  • 3/ Ông Bùi Văn V- Chức vụ; Quản lý là Người đại diện nhà hàng Ryby
    Địa chỉ: A, Trương Thị H, khu phố 3, phường Tân Thới Hiệp, Quận 12, Tp. Hồ Chí Minh
    (Có đơn xin vắng mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Trần Đức P, sinh năm 1996
HKTT: A, Lê Lợi (Tổ dân phố 5), thị trấn Đạ M'ri, huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng
(Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Thanh T và Trần Đức P là cậu cháu ruột. Ngày 29/03/2023, Trung và Phúc có ăn uống tại quận Tân Bình. Sau đó Trung rủ Phúc tiếp tục đi uống bia và hát karaoke thì Phúc đồng ý. Khoảng 17 giờ ngày 29/03/2023, Trung và Phúc điều khiển xe mô tô đến nhà hàng “Ruby”, địa chỉ số 15, đường Trương Thị Hoa, khu phố 3, phường Tân Thới Hiệp, Quận 12, TP Hồ Chí Minh ăn uống và hát karaoke. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Trung và Phúc yêu cầu 02 nhân viên phục vụ là Nguyễn Thị Bé L và Huỳnh Thị Chúc L đến để phục vụ, trong đó Linh phục vụ Trung và Loan phục vụ Phúc. Trong lúc ăn uống, Trung không cho Linh sử dụng điện thoại và đã lấy điện thoại di động Iphone 11 ProMax của Linh cất giữ vào túi quần, Linh đồng ý và không phản ứng. Khi Loan đi vệ sinh, Trung không cho Loan sử dụng điện thoại nên yêu cầu để lại trên bàn, Loan thực hiện theo yêu cầu, khi Loan rời khỏi phòng thì Trung lấy điện thoại di động Iphone 11 Pro của Loan bỏ vào túi quần. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Phúc bảo Trung tính tiền ra về và Phúc đi ra khỏi phòng trước, lấy xe mô tô đứng đợi sẵn trước cửa nhà hàng “Ruby”. Trung đợi một lúc thì rời khỏi phòng đi đến sảnh thu ngân (do Trung chưa trả điện thoại nên chị Linh đi theo sau Trung). Lúc này, Trung quan sát thấy Phúc đang ngồi trên xe mô tô đợi sẵn trước nhà hàng “Ruby” nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền dịch vụ bia và thức ăn trị giá 1.747.000 đồng, đồng thời chiếm đoạt 02 điện thoại di động của Linh và Loan trong túi quần của Trung mà Trung chưa trả lại cho nhân viên. Trung cầm điện thoại đặt lên tai làm động tác như đang nghe điện thoại rồi đi ra khỏi cửa nhà hàng, nhanh chóng leo lên xe mô tô của Phúc rồi nói Phúc chạy đi. Lúc này nhân viên nhà hàng Ruby phát hiện Trung có biểu hiện nghi vấn định bỏ trốn nên đuổi theo, nắm lấy xe mô tô của Trung và Phúc lại nhưng không kịp, Phúc điều khiển xe đi được khoảng 20 mét thì tự mất thăng bằng ngã xuống đường, bị nhân viên nhà hàng tri hô người dân hỗ trợ giữ lại cùng tang vật là 02 điện thoại di động của Loan và Linh trong túi quân Trung, sau đó trình báo Công an phường Tân Thới Hiệp lập hồ sơ chuyển Cơ quan CSĐT Công an Quận 12 thụ lý.

Tại Cơ quan CSĐT Công an Quận 12, Bùi Thanh T khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án trên. (Bút lục 164-167)

Bản cáo trạng số 102/CT-VKS, ngày 27/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, đã truy tố bị cáo Bùi Thanh T về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Bùi Thanh T khai nhận hành vi dùng thủ đoạn gian dối tiếp cận tài sản là 01 điện thoại đi động hiệu Iphone 11 Promax của chị Huỳnh Thị Chúc L, 01 điện thoại hiệu Iphone 11 Pro của Nguyễn Thị Bé L và hóa đơn dịch vụ 1.747.000 đồng của nhà hàng "Ruby". Lợi dụng sự sơ hở của bị hại rồi nhanh chóng bỏ chạy tẩu thoát cùng tài sản của người bị hại thì bị bảo vệ nhà hàng đuổi bắt thu giữ cùng tài sản chiếm đoạt.

Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai những người bị hại, người làm chứng cùng các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội vẫn giữ nguyên nội dung truy tố đối với bị cáo; sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên phạt: bị cáo Bùi Thanh T về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự và đề nghị xử phạt: Bị cáo Bùi Thanh T với mức án từ 02 năm 6 tháng đến 03 năm tù. Về vật chứng và trách nhiệm dân sự đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Bùi Thanh T không tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Bùi Thanh T rủ anh Trần Đức P đến nhà hàng “Ruby”. Tại nhà hàng, Trung gọi 02 nhân viên phục vụ Nguyễn Thị Chúc Linh và Nguyễn Thị Bé L. Nhậu được một lúc, Trung yêu cầu 02 nhân viên phục vụ để điện thoại Iphone 11 lên bàn nhậu, không cho sử dụng điện thoại. Trong quá trình ăn nhậu, Trung đã lấy 02 điện thoại cho túi quần, nhân viên phục vụ biết nhưng không giám đòi lại. Khi đến lúc tính tiền tại quầy, nhân viên phục vụ đi theo Bùi Thanh T mục đích để đòi lại điện thoại. Lợi dụng sơ hở của nhân viên phục vụ và nhân viên thu ngân khi đang đợi Trung thanh toán tiền. Bùi Thanh T bỏ chạy khỏi nhà hàng khi chưa thanh toán hóa đơn cùng 02 điện thoại di động. Nghe tiếng truy hô của nhân viên phục vụ và nhân viên thu ngân, bảo vệ nhà hàng đuổi theo bắt giữ Trung cùng tang vật

Căn cứ Án lệ số 57/2023/AL1 được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua các ngày 01,02, 03 tháng 02 năm 2023 về dùng thủ đoạn gian dối để người quản lý tài sản chuyển giao tài sản cho bị cáo, sau đó lợi dụng sơ hở để nhanh tróng tẩu thoát. Trường hợp này, bị cáo phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Cướp giật tài sản”.

Bị cáo Bùi Thanh T dùng thủ đoạn gian dối buộc các bị hại để điện thoại di động lên bàn nhận. Sau đó cất điện thoại vào túi quần, khi nào nhậu xong sẽ trả lại nhằm cho các bị hại tin và giao tài sản. Khi thanh toán tiền tại quầy thu ngân, bị hại đi theo mục đích để yêu cầu trả lại điện thoại. Khi các bên đang thực hiện hành vi giao hóa đơn để nhận tiền, Bùi Thanh T khi đó chưa thanh toán tiền đã bỏ chạy từ trên lầu xuống sân nhà hàng rồi ra ngoài đường lộ mang theo 02 điện thoại di động của người bị hại. Tại thời điểm Bùi Thanh T thực hiện hành vi, tài sản vẫn nằm trong tầm quản lý của nhân viên phục vụ và nhân viên thu ngân.

Hành vi nêu trên của Bùi Thanh T đã phạm vào tội Cướp giật tài sản, tội phạm được quy định tại Điều 171 Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Kết luận định giá tài sản số 207/KL-HĐĐGTS ngày 07 tháng 7 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 12 xác định: 01 điện thoại đi động hiệu Iphone 11 Promax, dung lượng 64 GB, số Imei 353912104964498 (của Huỳnh Thị Chúc L) có giá trị là 9.750.000 đồng; 01 điện thoại hiệu Iphone 11 Pro, dung lượng 64 GB, số Imei 35324210263113 (của Nguyễn Thị Bé L) có giá trị là 7.750.000 đồng. (Bút lục 20-22)

Bùi Thanh T chiếm đoạt tài sản với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 19.247.000 đồng. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 áp dụng khoản 1 Điều 171 của Bộ luật hình sự truy tố Bùi Thanh T là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu: Năm 2006 bị xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; năm 2010 bị xử phạt 03 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; năm 2011 bị xử phạt 05 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; năm 2023 bị xử phạt 09 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Bị cáo phạm tội với nhiều người trong thời gian ngắn. Bị cáo đã được Nhà Nước đưa đi giáo dục nhiều lần trong nhiều năm nhưng không sửa chữa thành người có ích cho xã hội. Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo để răn đe, phòng ngừa và chống tội phạm. Bản án xử bị cáo phải có tác dụng cải tạo và giáo dục, đồng thời làm gương cho những người khác.

Bị cáo đang chấp hành hình phạt tù theo Bản án số 81/2023/HS-ST ngày 15/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long nên cần áp dụng Điều 55; 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt của nhiều bản án.

Tuy nhiên, khi lượng hình cũng xem xét các tình tiết, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa tiền án, tiền sự, tài sản đã được thu hồi, đã bồi thường cho người bị hại....... Để áp dụng điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

  • - 02 điện thoại đi động hiệu Iphone 11 Promax, Iphone 11 Pro. Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại Huỳnh Thị Chúc L và Nguyễn Thị Bé L. Người bị hại không có yêu cầu bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Ông Bùi Văn V là đại diện cho Nhà hàng Ruby đã được bồi thường tiền hóa đơn dịch vụ 1.747.000 đồng, không yêu cầu thêm về dân sự (Bút lục 16, 17, 49, 50, 168, 169).
  • - 01 USB chứa dữ liệu điện tử là video từ camera giám sát tại hiện trường ghi nhận được diễn biến vụ án (lưu theo hồ sơ vụ án).

Đối với Trần Đức P, không có bàn bạc trước với Bùi Thanh T về việc chiếm đoạt tài sản. Quá trình Trung thực hiện hành vi phạm tội, Phúc không biết nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Bùi Thanh T phạm tội “Cướp giật tài sản”

Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Bùi Thanh T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Áp dụng Điều 55; 56 Bộ luật hình sự,

Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án. Bị cáo Bùi Thanh T phải chấp hành hình phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng của bản án này với hình phạt 09 tháng tù giam về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo Bản án số 81/2023/HS-ST ngày 15/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

Buộc bị cáo Bùi Thanh T phải chấp hành hình phạt của 02 bản án là: 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/10/2023.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 1 tháng, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp. Hồ Chí Minh; (01)
  • - VKSND Quận 12; (02)
  • - THADS Quận 12; (01)
  • - Phòng PC53 CA Tp. HCM; (01)
  • - Công an Quận 12; (01)
  • - UBND nơi bị cáo cư trú; (01)
  • - Bị cáo; (01)
  • - Người tham gia tố tụng khác; (04)
  • - Lưu hồ sơ vụ án. T 25/. (05)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ma Văn Nhất

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2024/HSST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 67/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: cướp giật tài sản;
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger