|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 67/2024/HS-ST.
Ngày 15/4/2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trần Kiên.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tư;
Bà Nguyễn Thị Biên.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 59/2024/TLST-HS, ngày 21 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Thanh T, sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn L, xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Đình T1, sinh năm 1963 và bà Phạm Thị S, sinh năm 1964; vợ: Chưa có; con: Chưa có; tiền sự: Không có; tiền án: Không có.
Bị cáo bị tạm giữ, tam giam từ ngày 24/12/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt tại phiên tòa).
- Người chứng kiến: Ông Dương Văn C, sinh năm 1983; nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường D, thành phố B (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 24/12/2023, Hoàng Thanh T đi xe khách từ khu vực xã T, huyện L đến ngã tư thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang mục đích mua ma túy để sử dụng. Tại đây, bị cáo gặp và hỏi mua của một người đàn ông không quen biết 200.000 đồng ma túy Heroine thì người này đồng ý bán. Bị cáo đưa cho người đàn ông này 200.000 đồng thì người này đi lấy ma túy. Khoảng 10 phút sau, người đàn ông này quay lại đưa cho bị cáo 01 túi nilon màu trắng có rãnh khóa nhựa viền màu đỏ bên trong túi có 04 đoạn ống nhựa (gồm 03 đoạn ống nhựa màu hồng và 01 đoạn ống nhựa màu xanh) bên trong các đoạn ống nhựa đều có ma túy Heroine.
Sau khi mua được số ma tuý trên, bị cáo thuê một người không quen biết đi xe ôm chở từ thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang đến khu vực Bệnh viện S1 thì xuống xe đi bộ tìm địa điểm để sử dụng ma túy. Đến 13 giờ 30 phút cùng ngày khi bị cáo đi đến khu vực vỉa hè trước cửa số nhà H, đường T, phường D, thành phố B thì bị tổ công tác Công an phường D kiểm tra thu giữ vật chứng, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Vật chứng thu giữ gồm:
- - 01 túi nilon màu trắng có rãnh khóa nhựa viền màu đỏ, bên trong 03 đoạn ống nhựa màu hồng được hàn kín, mở ra bên trong có chất cục bột màu trắng nghi là ma tuý và 01 đoạn ống nhựa màu xanh hàn kín, mở ra bên trong có chất cục bột màu trắng nghi là ma túy. Bên trong túi nilon còn bám dính chất cục bột màu trắng nghi là ma túy. Số vật chứng trên được cho vào phong bì thư dán kín niêm phong ký hiệu “QT".
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu đen, có số Imei 358683095279239.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định số vật chứng nghi ma túy đã thu giữ. Kết luận giám định số: 2648/KL-KTHS ngày 29/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
Trong 01 phong bì thư có ký hiệu “QT” đã được dán kín, niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 04 đoạn ống nhựa được hàn kín (trong đó có 03 đoạn màu hồng và 01 đoạn màu xanh), được đựng trong 01 túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ đều là ma túy, có tổng khối lượng 0,106 gam, loại Heroine.
Phiếu kết quả xét nghiệm ngày 24/12/2023 của Công an thành phố B đối với bị cáo có kết quả dương tính với ma túy MOR.
Tại bản Cáo trạng số: 68/CT-VKS ngày 20/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Hoàng Thanh T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo khai thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng nêu. Buổi trưa ngày 24/12/2023, bị cáo đi xe khách đến ngã tư thị trấn K, huyện L, bị cáo gặp và hỏi mua của một người đàn ông không quen biết 200.000 đồng ma túy Heroine. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày khi bị cáo đi đến khu vực vỉa hè thì bị Công an bắt giữ. Nay bị cáo thấy hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Khi bị bắt, bị cáo bị thu giữ một điện thoại Iphone 7, đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích tính chất, nội dung hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo vẫn giữ nguyên về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Hoàng Thanh T từ 13 tháng đến 16 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 24/12/2023).
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ký hiệu “QT” đựng chất cục bột màu trắm là ma túy, loại Heroin còn lại sau giám định.
Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ các chứng cứ tài liệu được thẩm tra, kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2]. Về tội danh:
Sau khi xem xét lời khai của bị cáo, người chứng kiến có trong hồ sơ cũng như tại phiên toà, biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định ma tuý của Phòng K - Công an tỉnh B, cũng như tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định: Ngày 24/12/2023 tại khu vực đường T, phường D, thành phố B, Công an phường D, thành phố B bắt quả tang Hoàng Thanh T có hành vi tàng trữ trái phép 0,106 gam ma túy, loại Heroine.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm sự độc quyền quản lý về ma tuý của Nhà nước.
Bị cáo có năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Hoàng Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. c) Heroine... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Do đó, Cáo trạng số: 68/CT-VKS ngày 20/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang truy tố đối với bị cáo Hoàng Thanh T là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Xét đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử thấy là có căn cứ, mức hình phạt là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử cần xem xét đến các tình tiết như sau:
3.1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
3.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan Điều tra, cũng như tại phiên toà, bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để áp dụng cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Hội đồng xét xử thấy cần bắt bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian, để giáo dục các bị cáo, theo Điều 38 của Bộ luật hình sự.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là không có nghề nghiệp, điều kiện kinh tế khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
[5]. Vấn đề khác: Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo. Bị cáo khai không biết tên và địa chỉ nên Cơ quan điều tra không làm rõ được. Hội đồng xét xử không xem xét.
[6]. Về xử lý vật chứng của vụ án:
Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý về vật chứng:
6.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ký hiệu “QT” đựng chất cục bột màu trắm là ma túy, loại Heroin còn lại sau giám định.
6.2. Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[7]. Tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án theo Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[8]. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[9]. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, để Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Hoàng Thanh T 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 24/12/2023.
- Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
2.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ký hiệu “QT” đựng chất cục bột màu trắm là ma túy, loại Heroin còn lại sau giám định.
2.2. Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Án phí: Áp dụng Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Buộc bị cáo Hoàng Thanh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo có mặt biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Trần Kiên |
Bản án số 67/2024/HS-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 67/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Thanh Thịnh Tàng trữ MT
